Biện pháp hướng dẫn trẻ lớp 5-6 tuổi A3 khám phá khoa học thông qua các thí nghiệm
Khổng Tử - nhà hiền triết nổi tiếng đã từng nói rằng “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; những gì tôi thấy tôi sẽ nhớ; những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”. Ông cha ta cũng từng có câu “Học đi đôi với hành” hay “Trăm nghe không bằng một thấy”. Những quan điểm này thể hiện mối quan hệ giữa học tập từ trải nghiệm, thực hành và khả năng ghi nhớ.
Với trẻ mầm non cũng vậy, trẻ có nhu cầu tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh rất lớn. Trẻ tò mò, ham hiểu biết, luôn đặt ra những câu hỏi “Đây là cái gì?”, “Vì sao lại thế?”… Trẻ sẽ hứng thú và ghi nhớ rất lâu những gì trẻ được trực tiếp nhìn, trực tiếp làm do đó nếu dạy trẻ bằng những hình ảnh và những lời giảng giải thông thường sẽ không thể cuốn hút trẻ, khiến trẻ nhanh nhàm chán, uể oải. Ngược lại, nếu trong các hoạt động trẻ được đặt làm trung tâm, là chủ thể của hoạt động, trẻ được học thông qua quá trình trẻ tự làm sẽ giúp trẻ dễ dàng ghi nhớ kiến thức hơn hay nói cách khác học qua thực hành sẽ giúp kiến thức đi sâu vào trí óc trẻ một cách tự nhiên và trở
thành kinh nghiệm của trẻ.
Thí nghiệm khoa học là một trong những hình thức dạy học thú vị, thu hút trẻ. Chuyển từ hình thức học bằng nghe, nhìn sang tự trình bày, tự làm. Không còn là những bài học khô khan qua tranh ảnh, qua lời giảng giải của cô giáo, đến với giờ thí nghiệm trẻ sẽ được tự tay thực hiện các thí nghiệm khoa học như: Sự đổi màu của răng, quá trình phát triển của cây từ hạt, giấy không bị ướt khi tô màu sáp, mực vô hình từ nước chanh…. Qua việc thực hiện các thí nghiệm khoa học trẻ có cơ hội hình thành và phát triển khả năng quan sát, phân tích, tính hiếu kì, lòng ham hiểu biết, phát triển tư duy và tăng niềm yêu thích của trẻ với khoa học. Qua những thí nghiệm này, trẻ sẽ hiểu rõ bản chất của sự vật, hiện tượng từ đó trẻ có thể liên hệ và ứng dụng kiến thức có được vào thực tế cuộc sống.Ví dụ:lấy chanh tẩy áo bị dính mực, hay đánh răng để tránh các mảng bám… Đồng thời thông qua thực hiện các thí nghiệm khoa học mà trẻ hình thành những kỹ năng mềm như kĩ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, tư duy phản biện và giải quyết vẫn đề….
PHÒNG GD&ĐT YÊN THẾ TRƯỜNG MẦM NON ĐỒNG VƯƠNG BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM DỰ HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2022-2024 “Biện pháp hướng dẫn trẻ lớp 5-6 tuổi A3 khám phá khoa học thông qua các thí nghiệm” Họ và tên: Linh Thị Thắm Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Đối tượng giảng dạy: Mẫu giáo Chức vụ: Giáo viên - TTtổ MG 5-6 tuổi Đồng Vương, tháng 3 năm 2023 2 BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM DỰ HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2022-2024 1. Lý do hình thành biện pháp Khổng Tử - nhà hiền triết nổi tiếng đã từng nói rằng “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; những gì tôi thấy tôi sẽ nhớ; những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”. Ông cha ta cũng từng có câu “Học đi đôi với hành” hay “Trăm nghe không bằng một thấy”. Những quan điểm này thể hiện mối quan hệ giữa học tập từ trải nghiệm, thực hành và khả năng ghi nhớ. Với trẻ mầm non cũng vậy, trẻ có nhu cầu tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh rất lớn. Trẻ tò mò, ham hiểu biết, luôn đặt ra những câu hỏi “Đây là cái gì?”, “Vì sao lại thế?” Trẻ sẽ hứng thú và ghi nhớ rất lâu những gì trẻ được trực tiếp nhìn, trực tiếp làm do đó nếu dạy trẻ bằng những hình ảnh và những lời giảng giải thông thường sẽ không thể cuốn hút trẻ, khiến trẻ nhanh nhàm chán, uể oải. Ngược lại, nếu trong các hoạt động trẻ được đặt làm trung tâm, là chủ thể của hoạt động, trẻ được học thông qua quá trình trẻ tự làm sẽ giúp trẻ dễ dàng ghi nhớ kiến thức hơn hay nói cách khác học qua thực hành sẽ giúp kiến thức đi sâu vào trí óc trẻ một cách tự nhiên và trở thành kinh nghiệm của trẻ. Thí nghiệm khoa học là một trong những hình thức dạy học thú vị, thu hút trẻ. Chuyển từ hình thức học bằng nghe, nhìn sang tự trình bày, tự làm. Không còn là những bài học khô khan qua tranh ảnh, qua lời giảng giải của cô giáo, đến với giờ thí nghiệm trẻ sẽ được tự tay thực hiện các thí nghiệm khoa học như: Sự đổi màu của răng, quá trình phát triển của cây từ hạt, giấy không bị ướt khi tô màu sáp, mực vô hình từ nước chanh . Qua việc thực hiện các thí nghiệm khoa học trẻ có cơ hội hình thành và phát triển khả năng quan sát, phân tích, tính hiếu kì, lòng ham hiểu biết, phát triển tư duy và tăng niềm yêu thích của trẻ với khoa học. Qua những thí nghiệm này, trẻ sẽ hiểu rõ bản chất của sự vật, hiện tượng từ đó trẻ có thể liên hệ và ứng dụng kiến thức có được vào thực tế cuộc sống.Ví dụ:lấy chanh tẩy áo bị dính mực, hay đánh răng để tránh các mảng bám Đồng thời thông qua thực hiện các thí nghiệm khoa học mà trẻ hình thành những kỹ năng mềm như kĩ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, tư duy phản biện và giải quyết vẫn đề . Xuất phát từ những lý do trên tôi đã lựa chọn biện pháp: “Biện pháp hướng dẫn trẻ lớp 5-6 tuổi A3 khám phá khoa học thông qua các thí nghiệm” 2. Thực trạng việc hướng dẫn trẻ khám phá khoa học thông qua các thí nghiệm tại lớp 5-6 tuổi A3. 2.1. Ưu điểm: - Được sự quan tâm các ngành các cấp, trang bị về cơ sở vật chất,lớp học khang trang, sạch đẹp. 3 - Số trẻ trên lớp ít (22 trẻ). Lớp đựơc trang bị đầy đủ đồ dùng đồ chơi theo Văn bản hợp nhất số 01 của Bộ GDĐT ngày 23/3/2015. - Nhà trường thường xuyên quan tâm thăm lớp, dự giờ, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. - Bản thân giáo viên có trình độ trên chuẩn (ĐHSP) về chuyên môn, luôn tích cực học tập, tìm tòi nghiên cứu các thí nghiệm cũng như các phương pháp hay, mới để vận dụng vào việc chức các hoạt động cho học sinh, trong đó có hoạt động trải nghiệm làm các thí nghiệm. - Được phụ huynh tin yêu, phối hợp chăm sóc giáo dục trẻ đạt hiệu quả. 2.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân - Giáo viên: + Giáo viên tổ chức hoạt động cho trẻ làm thí nghiệm trong năm học còn ít, chưa phong phú, chỉ có một vài thí nghiệm được lồng ghép trong các tiết học. + Nguyên nhân: Do giáo viên chưa biết cách sưu tầm, lựa chọn được nhiều các thí nghiệm phù hợp với nội dung giáo dục và dảm bảo an toàn cho trẻ. Mặt khác, việc cho trẻ thực hành thí nghiệm cần chuẩn bị công phu, nhiều đồ dùng nên cần nhiều thời gian để chuẩn bị, thời gian dành cho việc xây dựng kế hoạch, thiết kế ý tưởng và chuẩn bị cho các thí nghiệm chưa nhiều. - Trẻ em: + Trẻ chưa có kĩ năng làm thí nghiệm + Nguyên nhân: do cô giáo thường là người làm hộ, trẻ chỉ quan quan sát và đưa ra nhận xét. - Phụ huynh + Phụ huynh chưa dành nhiều thời gian để chơi và học qua các thí nghiệm cùng con. + Nguyên nhân: do phụ huynh còn chưa có kiến thức cũng như thời gian để dành cho con - Nhà trường. + Kinh phí dành cho các hoạt động trải nghiệm, thí nghiệm còn hạn chế; Nguồn nguyên vật liệu để phục vụ cho việc dạy, tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm còn chưa phong phú. Công tác tuyên truyền vận động phụ huynh các nhà hảo tâm. + Nguyên nhân: Do nguồn kinh phí hạn hẹp và giáo viên chưa có nhiều biện pháp huy động sự ủng hộ của phụ huynh. Việc hỗ trợ các con trong các hoạt động thí nghiệm còn hạn chế. 3. Biện pháp “Hướng dẫn trẻ lớp 5-6 tuổi A3 khám phá khoa học thông qua các thí nghiệm” 3.1. Nội dung biện pháp: 4 Để hướng dẫn trẻ khám phá khoa học thông qua các thí nghiệm, tôi đã tiến hành lựa chọn các thí nghiệm sao cho phù hợp với mục tiêu của Chương trình giáo dục mầm non, phù hợp với điều kiện thực tế của trường, lớp và nhu cầu, khả năng của trẻ tại lớp 5-6 tuổi A3. Tạo kho nguyên vật liệu đa dạng, phong phú để trẻ hoạt động thực hành trong năm. Xây dựng tiến trình tổ chức hoạt động thí nghiệm một cách bài bản, khoa học. Tạo cơ hội cho trẻ được làm, được khám phá, trải nghiệm và rút ra bài học cho bản thân. Đồng thời, tôi phối hợp với các bậc cha mẹ tạo cơ hội cho trẻ được thực hiện các thí nghiệm đơn giản, an toàn tại nhà giúp việc học của trẻ trở nên thường xuyên hơn. Tạo sự thống nhất trong chăm sóc, giáo dục trẻ giữa cô giáo và phụ huynh. 3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp: a) Lập kế hoạch giáo dục đưa các thí nghiệm vào chương trình giáo dục và hoạt động trong các thời điểm hợp lý: + Để trẻ được “Học bằng chơi, chơi mà học” thông qua các thí nghiệm xuyên suốt một năm học; nâng cao số lượng, chất lượng và đảm bảo sự phong phú của các thí nghiệm, tôi đã thực hiện sưu tầm, tham khảo, tìm hiểu các tài liệu, sách báo, các trang mạng, học hỏi bạn bè đồng nghiệp sau đó lựa chọn các thí nghiệm phù hợp với trẻ 5-6 tuổi, phân chia các thí nghiệm theo các chủ đề để chủ động trong việc tổ chức cho trẻ thực hiện. Hình ảnh cô giáo đang tham khảo các thí nghiệm khoa học + Trong khi lựa chọn các thí nghiệm tôi đã thường xuyên chú ý đến các yếu tố như: - Đảm bảo an toàn: Các thí nghiệm được lựa chọn phải đảm bảo tuyệt đối an toàn với trẻ, không gây thương tích hay: Cháy, nổ, bỏng - Phù hợp với mục tiêu và nội dung bài học: Đầu năm học, căn cứ vào kế hoạch năm của nhà trường. Căn cứ vào chương trình giáo dục mầm non tôi lựa chọn những thí nghiệm phù hợp đáp ứng nội dung giáo dục giáo dục và kết quả mong đợi của độ tuổi. 5 - Thí nghiệm đơn giản, dễ hiểu: Các thí nghiệm lựa chọn cho trẻ phải là các thí nghiệm dễ làm, phù hợp đặc điểm nhận thức của trẻ, trẻ có thể lý giải được các sự vật, hiện tượng xảy ra trong quá trình làm thí nghiệm. - Thí nghiệm đảm bảo mọi trẻ dều được tham gia. Sau khi tìm tòi, tham khảo tôi đã lập kế hoạch, đưa các nội dung thí nghiệm vào từng chủ đề cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của trẻ và điều kiện của lớp tôi như sau: 1 Trường mầm - Thí nghiệm đổi màu khi - Hoạt động ngoài trời. non pha trộn màu sắc. - Thí nghiệm mực vô hình từ Hoạt động vệ sinh nước chanh. 2 Bản thân - Giấy không bị ướt khi tô màu - Hoạt động chơi tự do. sáp. - Sự đổi màu của răng. - Hoạt động vệ sinh. 3 Gia đình - Cách bảo quản đồ ăn khỏi - Hoạt động ngoài trời. nấm mốc. 4 Nghề nghiệp - Thí nghiệm vật chìm, vật - Hoạt động ngoài trời nổi. 5 Động vật - Trứng chín, trứng sống. - Hoạt động góc khám phá. - Trứng chìm, trứng nổi. - Họat động ngoài trời. 6 Thực vật - Thí nghiệm tạo màu cho - Hoạt động ngoài trời. cây cải thảo. - Thí nghiệm sự nảy mầm của - Hoạt động góc. hạt. - Thí nghiệm mọc rễ của củ - Hoạt động ngoài trời. hành tây. 7 Nước và - Thí nghiệm hòa tan trong - Hoạt động học “Sự kì diệu HTTN nước. của nước”. - Dẫn nước. - Hoạt động ngoài trời. 8 Giao thông - Âm thanh dưới nước. - Hoạt động ngoài trời. 9 Quê hương - - Làm đàn tự chế bằng nước. - Hoạt động ngoài trời. đất nước - Bác Hồ 10 Trường tiểu - Vẽ tranh bằng nam châm. - Hoạt động góc. học b)Tìm kiếm, sưu tầm các nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương tạo thành kho nguyên vật liệu cho trẻ hoạt động. - Tôi tiến hành tìm kiếm, sưu tầm các nguyên vật liệu cho trẻ hoạt động và phân chia nguyên vật liệu chia làm 2 loại: Nguyên vật liệu sử dụng được nhiều lần và nguyên vật liệu dùng một lần. + Những nguyên vật liệu tái sử dụng nhiều lần thực hiện được nhiều thí nghiệm như: cốc, chai, màu, phẩm màu thì tôi sẽ sưu tầm và vận động phụ huynh và trẻ cùng 6 sưu tầm và mang đến lớp để có thể sử dụng thuận tiện mỗi khi có hoạt động thí nghiệm. + Với những nguyên vật liệu dùng được một lần, khó bảo quản thì cô sẽ chuẩn bị và vận động phụ huynh mang đến lớp gần ngày trẻ làm thí nghiệm như: Rau, trứng, muối, đường Hình ảnh phụ huynh ủng hộ nguyên vật liệu để trẻ làm thí nghiệm - Với việc tìm kiếm, sưu tầm và vận động phụ huynh, lớp tôi đã có được kho nguyên vật liệu, đồ dùng phong phú cho các hoạt động thí nghiệm trong năm. Hình ảnh kho nguyên vật liệu, đồ dùng c) Hướng dẫn trẻ thực hiện thí nghiệm theo quy trình. 7 - Tôi hướng dẫn trẻ các bước tiến hành thí nghiệm nhằm mục đích hình thành kĩ năng làm thí nghiệm và phát triển tư duy cho trẻ. - Các bước làm thí nghiệm được tiến hành như sau: * Hoạt động 1: Chuẩn bị: ở bước này giáo viên và trẻ cùng nhau chuẩn bị các dụng cụ và đồ vật cần thiết cho thí nghiệm. Hình ảnh cô và trẻ chuẩn bị đồ dùng cho thí nghiệm * Hoạt động 2: Thực hiện - Gọi tên thí nghiệm: Giáo viên gợi ý để trẻ có thể gọi tên được thí nghiệm. 8 Ví dụ: hạt này có nảy mầm được không? Hạt nào nảy mầm được, hạt nào không nảy mầm được, muốn biết được chúng ta phải làm thế nào? (gieo hạt) - Tiến hành: Giáo viên cùng trẻ làm thí nghiệm, nhằm định hướng cho trẻ thấy được sự thay đổi của sự vật, hiện tượng trong quá trình thí nghiệm. Ví dụ: Cho trẻ gieo hạt giống vào các chậu khác nhau (có chậu được tưới nước, chậu không tưới nước ). đinh hướng cho trẻ quan sát, theo dõi sự lớn lên của cây nảy mầm, ra lá và lớn lên. Lưu ý: Trong quá trình trẻ thực hành giáo viên cần: + Đảm bảo an toàn + Bao quát trẻ trong quá trình thí nghiệm thực nghiệm + Trong quá trình trẻ thực hiện thí nghiệm, nếu trẻ lúng túng cô cần có biện pháp gợi ý hướng trẻ giải quyết khó khăn. * Hoạt động 3: Thảo luận và suy ngẫm: Đặt câu hỏi với trẻ (Đoán xem các hạt giống có mọc lên cùng một lúc không? Theo con, điều gì sẽ xảy ra với chậu không được tưới nước). * Rút ra kết luận (liên hệ giáo dục trẻ): Giáo viên cùng trẻ trò chuyện, thảo luận, trao đổi về kết quả và rút ra kết luận và liên hệ thực tế.(Thông qua thí nghiệm sự nảy mầm của hạt trẻ sẽ hiểu hơ về môi trường, cây cối, sự phát triển, sự liên hệ mật thiết giữa nước, ánh sáng mặt trời và vạn thực vật ) Ví dụ: Thí nghiệm sự đổi màu của răng. * Hoạt động 1: Chuẩn bị: Nước ngọt, trứng luộc, bàn chải đánh răng, kem đánh răng. * Hoạt động 2: Thực hiện - Cô đưa ra gợi ý để trẻ gọi tên thí nghiệm: Cho trẻ xem một đoạn video về sự chuyển màu của răng và hỏi trẻ. + Răng của chúng mình màu gì? + Tại sao dần dần răng lại không còn trắng như lúc ban đầu? + Muốn biết vì sao răng lại đổi màu, chúng mình cùng cô làm thí nghiệm “Sự đổi màu của răng” nhé. - Tiến hành: Cô cho trẻ nhận xét màu sắc ban đầu cả quả trứng. Sau đó, cho trẻ thực hiện đổ những chai nước ngọt ra cốc và thả những quả trứng đã luộc chín vào trong cốc nước. - Thảo luận và suy ngẫm: + Theo con, điều gì sẽ xảy ra với quả trứng? (quả trứng đổi màu ạ) + Ban đầu vỏ trứng màu gì? (màu trắng). 9 + Sau khi ngâm trong nước ngọt quả trứng có màu gì? (có màu của nước ngọt). + Vì sao trứng lại đổi màu? (vì nước ngọt ngấm vào kẽ sần của vỏ quả trứng ạ). - Kết luận: + Nước ngọt ngấm vào vỏ của quả trứng làm quả trứng mang màu của nước ngọt. + Con có liên hệ gì về sự đổi màu của quả trứng với răng của chúng ta.(Răng ăn nhiều đồ ăn, đồ uống bám vào răng sẽ làm đổi màu răng ạ). + Vậy làm thế nào để bảo vệ răng, giúp răng luôn trắng sáng? (phải đánh răng ạ) -> Cô cho trẻ dùng bàn chải và kem đánh răng để đánh quả trứng đã bám màu để kiểm chứng và giáo dục trẻ. Hình ảnh quá trình làm thí nghiệm “Sự đổi màu của răng” của cô và trẻ Ví dụ: Thí nghiệm dẫn nước. - Mục đích: Giúp trẻ nhận biết được sự hút nước của tờ giấy. + Chuẩn bị: Cái ly, nước, bìa giấy màu hình vuông. + Tiến hành: Đặt tờ giấy lên miệng ly nước, úp ngược nó xuống bàn rồi từ từ nhấc lên. + Thảo luận, suy ngẫm: Điều gì sẽ xảy ra khi từ từ nhấc cốc lên? (nước đổ ra hay không đổ ra ngoài?). + Kết luận: - Nước không hề đổ ra ngoài. - Tại sao vậy nhỉ? Tại vì miếng bìa đã hút nước và bám chặt lên miệng ly và biến thành cái nắp siêu chắc. 10 Hình ảnh: Thí nghiệm dẫn nước Ngoài thí nghiệm trên tôi còn hướng dẫn trẻ làm một số thí nghiệm như: Vật chìm vật nổi, trứng chìm, trứng nổi, sự đổi màu của rau cải thảo .. 11 Hình ảnh trẻ làm thí nghiệm: Vật chìm vật nổi; Trứng chìm, trứng nổi; Sự đổi màu của rau cải thảo. d) Phối hợp với phụ huynh - Tuyên truyền tới phụ huynh về sự cần thiết và hiệu quả của việc cho trẻ học thông qua các thí nghiệm khoa học thông qua các buổi họp phụ huynh, qua nhóm zalo của lớp. - Gửi hình ảnh trẻ thực hiện các thí nghiệm trên lớp để phụ huynh thấy được những giờ học thú vị khi trẻ được trực tiếp làm, trực tiếp thực hiện từ đó huy động phụ huynh ủng hộ đồ dùng, nguyên vật liệu cho trẻ hoạt động. - Khuyến khích phụ huynh có thể dành thời gian những ngày nghỉ cuối tuần cùng trẻ thực hiện những thí nghiệm đơn giản Hình ảnh phụ huynh cùng con làm thí nghiệm sự nảy mầm của hạt 12 Hình ảnh phụ huynh cùng con làm thí nghiệm trái cây nổi, tẩy trắng quần áo bằng chanh 3.3. Kết quả áp dụng biện pháp: * Đối với giáo viên: Kĩ năng dạy học được nâng cao, đặc biệt là kĩ năng tổ chức hoạt động làm thí nghiệm cho trẻ. Xây dựng được nguồn các thí nghiệm và “kho nguyên vật liệu” không chỉ sử dụng trong một năm học mà còn có thể sử dụng trong các năm tiếp theo. * Đối với trẻ: Trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động tìm tòi, khám phá qua các thí nghiệm khoa học. Trẻ có kĩ năng làm thí nghiệm, tư duy phát triển. Cụ thể: Chênh Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng lệch STT Nội dung Số lượng Số lượng Tỷ lệ Tỷ lệ đạt/tổng Tỷ lệ % đạt/tổng % % số số 1 Biết tò mò, khám phá sự vật 11/22 50 % 21/22 95,4 45,5% hiện tượng xung quanh như đặt câu hỏi về sự vật, hiện tượng: Tại sao ? Vì sao ? 2 Biết phối hợp các giác quan 11/22 50% 21/22 95,4 45,5% để quan sát, xem xét và thảo luận về sự vật, hiện tượng (cây lá, hoa, quả ) 3 Biết làm thử nghiệm và sử 10/22 45,4% 22/22 100 54,6% dụng công cụ đơn giản để quan sát, so sánh, dự đoán, nhận xét và thảo luận. 13 * Đối với phụ huynh: - Phụ huynh quan tậm, tạo điều kiện và ủng hộ cô và trò đồ dùng, nguyên vật liệu cho các thí nghiệm. - Phụ huynh đã quan tâm và tạo cơ hội cho trẻ được học thông qua các thí nghiệm đơn giản tại nhà. Cụ thể: Chênh Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng lệch STT Nội dung Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ đạt/tổng % % đạt/tổng số % số 1 Trẻ được bố mẹ hướng 10/22 45,4% 21/22 95,4% 50% dẫn thực hiện các thí nghiệm tại nhà. 4. Minh chứng hiêu về hiệu quả của các biện pháp - Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn làm cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp: + Chương trình Giáo dục mầm non ban hành theo Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BGDĐT ngày 13/4/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. + Kế hoạch số 101/KH-TMN, ngày 19 tháng 9 năm 2022, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2022-2023. + Kế hoạch số 80/KH-TMN, ngày 26 tháng 8 năm 2022, kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi năm học 2022-2023 của trường mầm non Đồng Vương. 5. CAM KẾT Tôi xin cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; không sử dụng biện pháp đã được đề xuất để xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân trước đó; các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của trẻ em là trung thực. Đồng Vương, ngày 06 tháng 3 năm 2023 GIÁO VIÊN Linh Thị Thắm 14 ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG ... . HIỆU TRƯỞNG Thân Thị Ngân
File đính kèm:
bien_phap_huong_dan_tre_lop_5_6_tuoi_a3_kham_pha_khoa_hoc_th.pdf
