Biện pháp nhằm nâng cao tổ chức hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1
Hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mầm non có một vai trò to lớn trong việc giáo dục trẻ. Đặc biệt là hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm lại càng quan trọng và cần thiết hơn. Cho trẻ khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm sẽ kích thích tính tò mò, ham hiểu biết và hứng thú nhận thức về thế giới xung quanh của trẻ một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn. Hơn nữa đặc điểm nổi bật của hoạt động khám phá khoa học qua thực hành trải nghiệm mang lại cho trẻ mầm non đó là: Hoạt động có tính tương tác rất cao, kích thích sự giao tiếp và hợp tác, gắn với cuộc sống hằng ngày của trẻ, giúp trẻ sáng tạo và đưa ra được ý tưởng độc đáo. Kết hợp được nhiều các lĩnh vực khác nhau của phương pháp Stem/steam, giúp trẻ sử dụng nhiều giác quan khi tham gia hoạt động, Khuyến khích trẻ tự do tìm hiểu, phát triển khả năng quan sát, tư duy logic, đặt câu hỏi để giải quyết vấn đề.
Chính những điều này càng đòi hỏi sự phát huy tính sáng tạo của giáo viên. Thế nhưng trên thực tế, một số giáo viên vẫn còn lúng túng, bỡ ngỡ chưa linh hoạt trong việc lựa chọn đề tài, sáng tạo các hình thức đổi mới vào hoạt động khám phá khoa học, nhận thức về hoạt động cho trẻ khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm còn chưa sâu sắc, suy nghĩ còn đơn thuần chưa thực sự đi sâu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của trẻ để tìm cách tháo gỡ. Giáo viên chưa biết tận dụng cơ hội để cho trẻ luyện tập, kích thích trẻ hoạt động thực hành, trải nghiệm với môi trường sẵn có, vì vậy chưa phát huy tính tích cực của trẻ trong các hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm. Hầu như trẻ chỉ làm theo sự hướng dẫn của giáo vên, trẻ không được tham gia những hoạt động thực hành, trải nghiệm phù hợp với khả năng của trẻ, vì vậy trẻ không có cơ hội phát triển các kỹ năng nhận thức, khám phá, trải nghiệm.
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TRƯỜNG MẦM NON TAM TIẾN ****** BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM DỰ HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2024-2026 Tên biện pháp: Biện pháp nhằm nâng cao tổ chức hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1 Họ và tên: Vũ Thị Xuyến Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm Đối tượng giảng dạy: Mẫu giáo Chức vụ: Giáo viên - Tổ phó tổ chuyên môn 5-6 tuổi Tam Tiến, ngày 12 tháng 12 năm 2024 1 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ. Hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mầm non có một vai trò to lớn trong việc giáo dục trẻ. Đặc biệt là hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm lại càng quan trọng và cần thiết hơn. Cho trẻ khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm sẽ kích thích tính tò mò, ham hiểu biết và hứng thú nhận thức về thế giới xung quanh của trẻ một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn. Hơn nữa đặc điểm nổi bật của hoạt động khám phá khoa học qua thực hành trải nghiệm mang lại cho trẻ mầm non đó là: Hoạt động có tính tương tác rất cao, kích thích sự giao tiếp và hợp tác, gắn với cuộc sống hằng ngày của trẻ, giúp trẻ sáng tạo và đưa ra được ý tưởng độc đáo. Kết hợp được nhiều các lĩnh vực khác nhau của phương pháp Stem/steam, giúp trẻ sử dụng nhiều giác quan khi tham gia hoạt động, Khuyến khích trẻ tự do tìm hiểu, phát triển khả năng quan sát, tư duy logic, đặt câu hỏi để giải quyết vấn đề. Chính những điều này càng đòi hỏi sự phát huy tính sáng tạo của giáo viên. Thế nhưng trên thực tế, một số giáo viên vẫn còn lúng túng, bỡ ngỡ chưa linh hoạt trong việc lựa chọn đề tài, sáng tạo các hình thức đổi mới vào hoạt động khám phá khoa học, nhận thức về hoạt động cho trẻ khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm còn chưa sâu sắc, suy nghĩ còn đơn thuần chưa thực sự đi sâu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của trẻ để tìm cách tháo gỡ. Giáo viên chưa biết tận dụng cơ hội để cho trẻ luyện tập, kích thích trẻ hoạt động thực hành, trải nghiệm với môi trường sẵn có, vì vậy chưa phát huy tính tích cực của trẻ trong các hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm. Hầu như trẻ chỉ làm theo sự hướng dẫn của giáo vên, trẻ không được tham gia những hoạt động thực hành, trải nghiệm phù hợp với khả năng của trẻ, vì vậy trẻ không có cơ hội phát triển các kỹ năng nhận thức, khám phá, trải nghiệm. Bên cạnh đó việc tổ chức các thí nghiệm về khám phá khoa học vẫn còn đơn điệu, hầu như giáo viên dạy trẻ theo phương pháp truyền thống một chiều "cô nói, trẻ nghe", chọn việc trình chiếu cho trẻ xem hơn là việc tổ chức cho trẻ được hoạt động thực hành, trải nghiệm, hoặc giáo viên làm thí nghiệm cho cả lớp quan sát mà không cho trẻ được tự khám phá trải nghiệm dẫn đến lớp học thụ động, trẻ nhàm chán, hiệu quả đạt được không cao, đây chính là những biểu hiện của việc chậm đổi mới các phương pháp giáo dục. Nhận thức sâu sắc về vấn đề này nên tôi đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp nhằm nâng cao tổ chức hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A1” để nghiên cứu và thực hiện. 2 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 1. Thực trạng công tác tổ chức nội dung/nhiệm vụ mà giáo viên lựa chọn để giải quyết vấn đề 1.1. Ưu điểm - Được tham dự lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn do Phòng giáo dục và đào tạo tổ chức về chuyên đề “Hướng dẫn tổ chức hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm cho trẻ mầm non” - Giáo viên luôn có ý thức cao trong việc tìm hiểu, nghiên cứu cái mới trong chuyên môn, nghiệp vụ. - Bản thân nhiều năm liền được phụ trách chăm sóc và giáo dục trẻ ở độ tuổi trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, nên rất thuận tiện trong việc tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi. - Trẻ lớp tôi đang phụ trách hầu hết rất hứng thú và tích cực khi tham gia hoạt động khám phá khoa học, thích làm các thí nghiệm để tìm tòi, khám phá 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1: Giáo viên - Phương pháp và hình thức cho trẻ khám phá khoa học của giáo viên còn rập khuôn cứng nhắc, chủ yếu là cung cấp kiến thức, chưa linh hoạt sáng tạo, chưa phát huy hết tính tích cực và nhận thức của trẻ. - Các hình thức cho trẻ khám phá khoa học còn chưa đa dạng phong phú, nên trẻ chưa được thường xuyên thực hành, trải nghiệm nhiều. Giáo viên lựa chọn các đề tài cho trẻ thí nghiệm chưa hay, chưa phong phú mới mẻ, chưa kích thích trẻ sử dụng các giác quan vào các hoạt động khám phá khoa học qua thưc hành, trải nghiệm để phát huy hết tính tích cực của trẻ. - Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết dạy của giáo viên còn hạn chế. * Nguyên nhân. - Do giáo viên vẫn còn chưa thoát ra được cách tổ chức hoạt động theo khuôn mẫu khi cho trẻ khám phá khoa học, trẻ chưa được thực hành trải nghiệm nhiều. - Do một số yếu tố tác động như: Thời gian, khối lượng công việc nhiều, đồ dùng trang thiết bị để phục cho hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm, đồ dung để cho trẻ được làm thí nghiệm còn thiếu thốn. 1.2.2: Trẻ em. - Trẻ còn rụt rè khi tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm. 3 - Trong lớp có 1 số trẻ bị chậm phát triển về nhận thức, ngôn ngữ, có trẻ bị tăng động. * Nguyên nhân. - Do trẻ lớp tôi đa số là người dân tộc, ở vùng sâu của xã cho nên ít được va chạm, dẫn đến trẻ có lối sống thu mình, ngại giao tiếp. - Do một số trẻ điều kiện gia đình khó khăn, cho nên việc quan tâm đến học tập của con về thời gian, đồ dùng, trang thiết bị học tập còn nhiều hạn chế. 1.2.3: Phụ huynh (cha mẹ/người chăm sóc trẻ) - Đa số phụ huynh còn chưa có nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng, sự cần thiết của việc cho trẻ khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm để trẻ phát triển toàn diện. - Đa số phụ huynh chiều chuộng con, bao bọc con, không mạnh dạn cho con mình được thực hành trải nghiệm với những thí nghiệm đơn giản tại nhà. * Nguyên nhân - Do các bậc phụ huynh còn có những suy nghĩ trẻ còn nhỏ thì chưa thể khám phá khoa học được, chưa thể làm thí nghiệm khoa học - Do phụ huynh mải lo làm kinh tế, đi làm công ty nên ít có thời gian giành cho con mình, chủ yếu con do ông bà chăm sóc. 1.2.4: Cơ sở giáo dục mầm non. - Đồ dùng, đồ chơi, công cụ, dụng cụ để phục vụ cho trẻ trong việc khám phá khoa học, đặc biệt là đồ dùng phục vụ để cho trẻ làm các thí nghiệm còn thiếu thốn. * Nguyên nhân: Do nhà trường vẫn đang trong giai đoạn cần đầu tư để hoàn thiện về cơ sở vật chất của nhà trường, nên việc đầu tư để mua sắm 1 số đồ dùng, trang thiết bị cho các lớp còn hạn chế. 2. Biện pháp thực hiện. 2.1: Biện pháp 1: Tăng cường cho trẻ được thực hành, trải nghiệm trong hoạt động Khám phá khoa học. 2.1.1. Nội dung biện pháp. Đối với trẻ mầm non việc cho trẻ “Khám phá khoa học” qua thực hành trải nghiệm là vô cùng quan trọng, vì nó đóng vai trò rất lớn đối với sự phát triển toàn diện, đặc biệt là sự phát triển nhận thức của trẻ. Việc cho trẻ trải nghiệm với đối tượng diễn ra nhờ sử dụng các giác quan, các bộ phận trên cơ thể để trẻ được trực tiếp tiếp xúc, trải nghiệm với những đồ dùng, dụng cụ, thiết bị, 4 nguyên vật liệu để khám phá, để tìm hiều, để giải quyết vấn đề, sẽ giúp trẻ lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng sống cần thiết trong cuộc sống của trẻ một cách tự nhiên mà đạt hiệu quả rất cao trên trẻ. Hiểu sâu sắc về vấn đề này, tôi đã mạnh dạn áp dụng cho trẻ được tham gia hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiêm nhiều hơn trong hoạt động. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Để thực hiện được tốt hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm tôi sẽ lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp với khả năng của trẻ, phù hợp với điều kiện thực tế của lớp học. đồ dùng đồ chơi hợp lý và an toàn. Đặc biệt đó là tôi sẽ bám sát vào việc đảm bảo mục tiêu của hoạt động khám phá khoa học. * Ví dụ: Với đề tài “Phân loại đồ dùng gia đình theo 2 dấu hiệu”. Tôi tiến hành tổ chức hoạt động theo tiến trình sau: 1. Hoạt động 1: Gây hứng thú. - Hát bài: “Đồ dùng bé yêu” sáng tác Minh Châu. 2. Hoạt động 2: Bài mới. a. Củng cố tên gọi, đặc điểm của 1 số đồ dùng gia đình. - Củng cố qua việc cho trẻ chơi trò chơi: “Gia đình thi tài” + Cách chơi: Tôi chia lớp làm ba nhóm tương ứng với 3 gia đình, tặng cho mỗi gia đình 1 hộp quà, dùng thủ thuật sư phạm đề cho 3 gia đình cùng mở hộp quà, sau đó nhiệm vụ của mỗi gia đình sẽ phải sắp xếp những đồ dùng gia đình (Bát ăn, cốc, thìa, đĩa ...) ra bàn ăn sao cho thật đẹp. + Luật chơi: Thời gian cho các gia đình là một bản nhạc, kết thúc bản nhạc gia đình nào sắp xếp được đầy đủ, nhanh, đẹp sẽ giành phần thắng. -> Gia đình giành chiến thắng sẽ được quyền giới thiệu các đồ dùng gia đình đó về tên gọi, đặc điểm (Cô giáo hỗ trợ trẻ) 5 => Thông qua trò chơi này sẽ giúp trẻ vừa được củng cố lại kiến thức về một số đồ dùng gia đình lại vừa cho trẻ được thực hành, trải nghiệm luôn trên những đồ dùng gia đình gần gũi với trẻ, giúp trẻ càng thêm hào hứng và tích cực. b. Phân loại loại đồ dùng gia đình theo 2 dấu hiệu. - Cho trẻ hướng lên màn hình cho trẻ tìm hiểu về 2 dấu hiệu của 1 số đồ dùng gia đình qua Powerpoint: Đồ dùng để ăn, đồ dùng để mặc, đồ dùng để uống và chất liệu của chúng -> Mở rộng thêm những đồ dùng gia đình khác, chất liệu khác. - Khi đã cho trẻ tìm hiểu xong tôi cho trẻ được thực hành phân loại đồ dùng gia đình theo 2 dấu hiệu. + Phân loại đồ dùng gia đình theo dấu hiệu thứ nhất: Theo công dụng (Đồ dùng để ăn; đồ dùng để mặc; đồ dùng để uống). Tôi sẽ tặng cho mỗi trẻ 1 rổ đồ chơi -> Sau đó tôi cho trẻ về tổ và thực hành phân nhóm bằng lô tô trên bảng trắng. 6 + Phân loại đồ dùng theo dấu hiệu thứ 2: Theo chất liệu (Đồ dùng làm bằng chất liệu sứ, thủy tinh; đồ dùng làm bằng chất liệu inox; nhựa; đồ dùng lằm bằng chất liệu vải) -> Tôi cho trẻ phân loại trên vật thật: Cho trẻ về nhóm và cùng nhau phân loại đồ dùng theo chất liệu trên vật thật để trẻ được sờ, được nhìn ngắm, được cảm nhận về chất liệu của những đồ dùng đó. - Khi trẻ phân loại xong ở mỗi dấu hiệu, tôi sử dụng câu hỏi hướng trẻ hiểu sâu sắc hơn về phân loại như: + Con phân loại được mấy nhóm đồ dùng gia đình? Vì sao con lại phân loại như vậy? + Nếu mình xếp những đồ dùng như cái bát này vào nhóm đồ dùng để mặc thì theo con có phù hợp không? Tại sao? + Tại sao con lại đưa những đồ dùng này vào cùng một nhóm? -> Cô giáo chính xác lại về cách phân loại của trẻ c. Trò chơi củng cố. * Trò chơi 1: Gia đình đi shopping. + Cách chơi: Cô chia lớp làm 3 gia đình (3 đội chơi), khi có hiệu lệnh của trò chơi, bạn cuối hàng sẽ lấy một đồ dùng gia đình, chuyển tiếp cho các thành viên tiếp theo trong đội, đến bạn đầu hàng, bạn đầu hàng sẽ phải để đồ dùng gia đình đó vào đúng nhóm (Nhóm đồ dung để ăn; nhóm đồ dung để uống; nhóm đồ dung để mặc), sau đó bạn đầu hàng đó chạy về cuối hàng và lấy đồ dùng gia đình chuyển cho các bạn trong đội. Cứ lần lượt chuyển đồ dùng gia đình như vậy cho đến khi kết thúc trò chơi. Gia đình nào mua sắm được nhiều đồ dùng gia đình và đưa những đồ dùng gia đình đó về đúng nhóm và nhanh nhất sẽ giành chiến thắng. + Luật chơi: Sau 2 lần nhạc trò chơi sẽ kết thúc. 7 -> Qua trò chơi này giúp trẻ vừa được thỏa sức vui chơi, vừa được thực hành, trải nghiệm nhiều về phân loại đồ dùng gia đình theo dấu hiệu thứ nhất (công dụng), vừa giúp rèn trẻ có tinh thần gắn kết với bạn, sự nhanh nhậy trong khi chơi trò chơi. * Trò chơi 2: Chiếc túi thần kì. + Cách chơi: Cho trẻ về 4 nhóm, cùng nhau phân loại những đồ dùng gia đình về các nhóm theo dấu hiệu thứ 2 (Chất liệu): Đồ dùng làm bằng nhựa sẽ cho vào chiếc túi mầu đỏ; Đồ dùng làm bằng inox cho vào chiếc túi mầu xanh; Đồ dùng làm sứ cho vào chiếc túi mầu vàng; Đồ dùng làm bằng thủy tinh cho vào chiếc túi mầu tím; Đồ dùng có chất liệu vải cho vào chiếc túi mầu sám -> Cùng trẻ kiểm tra kết quả. => Thông qua trò chơi này sẽ giúp trẻ vừa củng cố lại cách phân loại đồ dùng theo chất liệu lại vừa củng cố cho trẻ sự khéo léo, tính cẩn thận khi đưa những đồ dùng gia đình vào trong túi sao cho an toàn. 8 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp. Khi áp dụng biện pháp này vào việc tổ chức hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm, giúp trẻ được học và trải nghiệm thực tế nhiều hơn, qua đó giúp trẻ phát huy tối đa khả năng sáng tạo, sự tương tác cao đối với cô, với bạn, kích thích tính tò mò, sự ham hiểu biết, khả năng giao tiếp ở trẻ. Khi cho trẻ học khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm còn giúp trẻ thật tự tin vào bản thân, tăng khả năng tự lập cho trẻ, hình thành ở trẻ tính kiên nhẫn để để đạt được kết quả như mong muốn khi khám phá khoa học. Qua biện pháp này giúp tôi có thể nắm bắt rõ ràng nhất về khả năng của trẻ, qua đó giúp tôi có thể biết những trẻ nào còn chậm, còn yếu về nội dung này. Từ đó tôi sẽ quan tâm sát sao hơn đến những trẻ đó để giúp trẻ theo kịp với các bạn của mình. 2.2: Biện pháp 2: Lựa chọn hoạt động khám phá khoa học, thiết kế các hoạt động theo quy trình 5E (Emgega, Explore, Explain, Elaborate, Evaluate) 2.2.1. Nội dung biện pháp. Hoạt động khám phá khoa học có thể vận dụng nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học và theo các quy trình dậy học khác nhau như: Quy trình học tập dựa vào trải nghiệm của Kurt Lewin, chu trình trải nghiệm của Davind Kolb, quy trình 5E, các dự án. Nhưng việc lựa chọn hoạt động khám phá khoa học theo quy trình 5E là một lựa chọn tốt hơn cả, vì khi cho trẻ được khám phá khoa học theo quy trình 5E sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện về tư duy và kĩ năng, cụ thể nó giúp trẻ sử dụng tối đa các giác quan; tăng cường sự tham gia và hứng thú của trẻ; khuyến khích học tập chủ động; phát triển kỹ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề; tăng cường sự hiểu biết sâu sắc và toàn diện; đánh giá toàn diện và liên tục; phát triển kỹ năng xã hội và làm việc nhóm; ứng dụng linh hoạt và đa dạng. Nhờ vào những ưu điểm vượt trội này, khi cho trẻ khám phá khoa học theo quy trình 5E sẽ giúp trẻ không chỉ tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc mà còn phát triển những kĩ năng quan trọng cho cuộc sống và học tập sau này của trẻ. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp. Mô hình 5E có thể áp dụng trong nhiều hoạt động khác, nhưng nó thể hiện rõ nhất trong hoạt động “Khám phá khoa học”. Chính vì vậy mà tôi đã lựa chọn và thiết kế các hoạt động khám phá khoa học theo quy trình 5E này. * Ví dụ: Khám phá khoa học về năm giác quan. Tôi tổ chức hoạt động như sau: + Các thành tố cần đạt: 9 - Khoa học (S): Trẻ biết tên các bộ phận và các giác quan trên cơ thể: tai- khứu giác, mắt- thị giác, mũi- khứu giác, lưỡi- vị giác và da- xúc giác. Biết tác dụng và sự cần thiết của các giác quan trên cơ thể. - Công nghệ (T): Biết sử dụng 1 số dụng cụ như: kính lúp, điện thoại (Laptop), thìa, đĩa, cốc và 1 số nguyên vật liệu. - Kỹ thuật (E): Trẻ có kĩ năng sử dụng các dụng cụ, nguyên vật liệu như: Dùng bát, thìa để xúc đường, muối thử vị giác; Dùng kính lúp để nhìn - Nghệ thuật (A): Trẻ biết tạo ra bức tranh hoàn chỉnh và đẹp về 5 giác quan - Toán học (M): Trẻ thực hiện đếm số lượng các giác quan trên cơ thể. * Tổ chức hoạt động: 1. GẮN KẾT (Engagemment) (5 - 7 phút) - Mở 1 đoạn nhạc vui nhôn, cô sẽ xuất hiện cầm trên tay 1 bức tranh để gây sự tập trung của trẻ và khơi gợi tính tò mò ở trẻ -> Dùng thủ thuật sư phạm để mở bức tranh đó ra, đưa ra những câu hỏi về bức tranh đó. + Đây là gì? + Trên bức tranh có gì? -> Cho trẻ cùng nói tên, đặc điểm, tác dụng của các giác quan. 2. KHÁM PHÁ KHẢO SÁT (Explore) (15- 20 phút). - Cho trẻ về 3 nhóm để cùng khám phá về 5 giác quan. * Cơ quan Thị giác (Mắt). - Cho trẻ lấy rổ đồ dùng (Có nhiều loại đồ dùng khác nhau) đặt lên bàn và giao nhiệm vụ cho trẻ là tìm chiếc kính lúp trong rổ đồ chơi. - Khi trẻ đã tìm được chiếc kính lúp, yêu cầu trẻ dùng kính lúp để soi vào ngón tay của mình. * Cơ quan Thính giác (Tai) - Cho 3 nhóm lấy điện thoại (Laptop) mở đoạn nhạc mà cô đã cài sẵn trên điện thoại để cùng nghe đoạn nhạc đó. * Cơ quan Khứu giác (Mũi) - Cho trẻ mở lọ nước hoa; lọ đựng cánh hoa hồng (hoặc hoa Cúc; hoa Ly) cùng gửi hương thơm. * Cơ quan Vị giác (Lưỡi) - Cho trẻ lấy cốc, thìa và cùng pha nước đường, muối và nếm thử; nếm thử bim bim cay và nêu cảm nhận. * Cơ quan Xúc giác (Da) - Cho trẻ cùng lấy tay để cảm nhận 2 cốc nước: Một cốc nước đá và 1 cốc nước nóng (Đảm bảo nhiệt độ an toàn cho trẻ) => Trong quá trình trẻ thực hiện tôi sẽ bao quát trẻ, đến từng nhóm đặt câu hỏi để trẻ phát hiện ra vấn đề như: Làm thế nào chúng mình tìm được chiếc kính 10 lúp? (Con nhìn thấy ); Khi dung kính lúp soi vào ngón tay mình chúng mình thấy gì? (Con thấy ngón tay to hơn ); Tại sao chúng mình lại thấy ngón tay của mình to hơn? (Vì con dùng kính lúp soi vào ạ ); Chúng mình có cảm nhận thế nào về đoạn nhạc? (Con thấy nhạc hay; Con thấy nhạc to rồi lại nhỏ ạ ); -> Cho trẻ sẽ ghi chép lại (đánh dấu; nối; gắn) giác quan mà trẻ vừa khám phá vào bảng ghi kết quả của nhóm mình. 3. GIẢI THÍCH, CHIA SẺ (Explain) (8 – 10 phút) - Tôi cho các nhóm lên chia sẻ kiến thức mà trẻ vừa khám phá được về năm giác quan -> Sau mỗi nhóm trình bày tôi sẽ chính xác lại kiến thức để cho trẻ hiểu sâu sắc hơn về 5 giác quan + Chúng mình vừa khám phá về mấy giác quan? + Các giác quan có quan trọng không? + Vậy chúng mình cần làm gì với những giác quan này? -> Tôi dẫn dắt giáo dục trẻ biết bảo vệ các giác quan 4. ÁP DỤNG (Elaborate) (12 – 15 phút). - Cho trẻ về 3 nhóm, lựa chọn đồ dùng, nguyên liệu và thực hiện hoạt động của nhóm mình như: + Nhóm 1: Cùng nhau cắt và gắn các giác quan để hoàn thiện bức tranh + Nhóm 2: Vẽ bức tranh về 5 giác quan. + Nhóm 3: Nối tranh về tác dụng của 5 giác quan. (Cô bao quát, gợi ý trẻ, động viên, giúp đỡ trẻ) 5. ĐÁNH GIÁ (Evaluate) - Tôi cho trẻ mang sản phẩm lên trưng bày - Cho trẻ nêu cảm nhận của mình về hoạt động - Cô nhận xét chung (đánh giá), cho trẻ thu dọn đồ dùng -> kết thúc hoạt động 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp: 11 - Khi áp dụng thực hiện tổ chức hoạt động khám phá khoa học qua thực hành trải nghiệm theo quy trình 5E giúp trẻ được học đi đối với thực hành, trải nghiệm thực tế - Giúp cho trẻ được phát huy hết khả năng tiềm ẩn của mình, trẻ được học theo đúng phương châm “Học mà chơi, chơi mà lại là học”. Trẻ được sử dụng hết các giác quan trên cơ thể để giải quyết vấn đề, trẻ chủ động hơn trong việc học tập kể cả những trẻ yếu, nhút nhát cũng đã rất tích cực tham gia vào hoạt động. Trẻ có kĩ năng tốt hơn khi làm việc theo nhóm. - Qua hoạt động đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động cũng được khai thác triệt để khi sử dụng trong hoạt động. - Sự phối hợp, tương tác giữa cô và trẻ, giữa trẻ với trẻ rất tốt, trẻ mạnh dạnh hơn trong việc bầy tỏ ý kiến để tìm cách giải quyết vấn đề. 2.3. Biện pháp 3: Đa dạng hoá các hình thức khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm cho trẻ vào hoạt động khác. 2.3.1. Nội dung biện pháp. Nói đến cụm từ “Khám phá khoa học” tưởng chừng như nó rất cao siêu, phức tạp và khó và nhất là khi ta áp dụng cho trẻ độ tuổi mẫu giáo. Nhưng thực ra khám phá khoa học lại là một trong những hoạt động rất gần gũi, thực tế đối với trẻ, trẻ có thể khám phá khoa học mọi lúc, mọi nơi, với mọi sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ. Chúng ta không cần quá phức tạp hóa về khám phá khoa học cho trẻ, không cần cứ nói đến khám phá khoa học phải là sự khám phá một công trình đồ sộ, hay một cái gì đó rất phức tạp. Đối với trẻ chỉ cần những thứ rất đơn giản, gần gũi như một bông hoa, một lọ mầu nước, hay trẻ chỉ nhìn thấy bóng mình dưới nắng ... cũng đủ để cho trẻ khám phá. Điều quan trọng ở đây đó là cách cô giáo lựa chọn và tổ chức cho trẻ khám phá khoa học như thế nào để trẻ được tiếp xúc, tìm tòi, phát hiện ra cái mới, cái ẩn giấu trong đó. Chính vì vậy việc đa dạng hóa các hình thức khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm vào một số hoạt động khác là vô cùng thiết thực và cần thiết. 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Để thực hiện việc đa dạng hóa các hoạt động khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm vào các hoạt động khác tôi thực hiện như sau: a. Hoạt động học: - Trong hoạt động học về khám phá khoa học như khám phá về giác quan; Phân loại; khám phá về nước; về không khí; cây xanh; rau, củ, quả ...tôi sẽ lựa chọn hình thức tổ chức sao cho phù hợp với đề tài đó, có đề tài tôi thiết kế theo quy trình 5E, có những đề tài tôi thiết kế theo phương pháp vẫn thường sử dụng nhưng tôi sẽ tăng cường cho trẻ học qua thực hành, trải nghiệm nhiều hơn. 12 b. Hoạt động ngoài trời - Với hoạt động ngoài trời, đây là hoạt động trẻ rất mong chờ, khi ra ngoài trời có rất nhiều thứ hấp dẫn trẻ, khơi gợi tính tò mò, thích khám phá của trẻ, như môi trường, không khí, hiện tượng ngoài thiên nhiên nắm bắt được tâm lý của trẻ, tôi cũng mạnh dạn, tìm tòi, học hỏi để đưa ra những nội dung khám phá thú vị cho trẻ. Ví dụ 1: Cho trẻ khám phá về ánh nắng mặt trời qua thí nghiệm “Sự kì diệu của ánh nắng”. - Tôi sẽ lấy một cái chậu, đổ đầy nước vào, sau đó tôi lấy gương soi đặt vào chậu, để chiếc gương hứng ánh nắng mặt trời. Dùng tấm bìa trắng (hoặc giấy A4) để trước chiếc gương và di chuyển, kết hợp di chuyển cả chiếc gương, sao cho đến khi xuất hiện có những vệt trên tấm bìa trắng. - Khi đã hướng dẫn trẻ xong tôi cho trẻ được cùng nhau thực hành, trải nghiệm để tự tìm ra vệt mầu trên tấm bìa trắng. 13 -> Có thể nói với thí nghiệm này trẻ thích thú vô cùng khi nhìn thấy vệt mầu xuất hiện trên tấm bìa trắng, khi trẻ được trải nghiệm với thí nghiệm này còn rèn cho trẻ tính kiên nhẫn rất cao, trẻ biết chấp nhận thất bại lần đầu và kiên nhẫn để tìm ra được vệt mầu trên tấm bìa. Ví dụ 2: Cho trẻ làm thí nghiệm “Tại sao lại thế?” - Khi cho trẻ dạo chơi sân trường, hít thở không khí ngoài trời, tôi sẽ dẫn dắt để cho trẻ làm thí nghiệm “Tại sao lại thế?”. Đối với trẻ mầm non kể cả cái tên của từng thí nghiệm tôi cũng lưu tâm đặt tên cho mỗi thí nghiệm sao cho có sự lôi quấn trẻ, hấp dẫn trẻ và nhất là tạo cho trẻ sự tò mò để khám phá nó. - Tôi sẽ lấy một cái chai nhựa không có gì bên trong, cho trẻ quan sát và cho trẻ chuyền tay nhau để cùng xem cái chai có gì không. Sau đó tôi cho trẻ ra vị trí có chậu nước, tôi cầm chai và đặt chai nhựa đó vào chậu nước, cho trẻ quan sát hiện tượng xảy ra (Xuất hiện bong bóng nổi lên từ miệng chai đó) - Chia nhóm trẻ ra cho trẻ cùng nhau thực hành, trải nghiệm với thí nghiệm này, sau đó cho trẻ nêu kết quả -> Hỏi trẻ xem kết quả của trẻ có giống của cô giáo không? Tại sao lại xuất hiện hiện tượng đó? ... video.mp4 -> Qua cho trẻ thực hành thí nghiệm này giúp trẻ hiểu được không phải trong chai không có gì mà trong chai chứa đầy không khí, khi ta cho chai xuống chậu nước, nước chàn vào trong chai và đẩy không khí ra ngoài, cho nên xuất hiện bong bóng như vậy. - Hoặc khi cho trẻ hoạt động ngoài trời kết hợp cho trẻ làm một số thí nghiệm khác như: Đá chìm hay nổi; Cát có tan được không? Tại sao lá rụng? Bóng ai cao hơn ... 14 c. Hoạt động góc: * Góc Khám phá. - Đối với trẻ mầm non có vô vàn những thí nghiệm hay, đơn giản và gần gũi để trẻ khám phá, để trẻ làm thí nghiệm. Tại góc khám phá tôi cũng đa dạng hóa những thí nghiệm để cho trẻ cùng nhau thực hành, trải nghiệm khám phá khoa học. Ví dụ cho trẻ được khám phá qua một số những thí nghiệm sau: + Cho trẻ làm thí nghiệm “Nước biến hình”: Chuẩn bị một bát nước, cho trẻ quan sát bát nước, sau đó cho trẻ quan sát nước đun sôi (đảm bảo an toàn cho trẻ) -> Cho trẻ nêu cảm nhận (Thấy hơi nước bốc lên ...). Nhưng nếu chỉ để cho trẻ quan sát mà không cho trẻ được trải nghiệm thì sẽ không khắc sâu được kiến thức cho trẻ. Vì vậy tôi sẽ dùng tấm kính cho hơi nước bám vào mặt kính và cho trẻ sờ tay vào mặt kính và nêu cảm nhận. 15 + Thí nghiệm “Nước biết tạo hình”: Cho trẻ cùng nhau đổ nước vào một số dụng cụ như: Khay làm đá; khuôn hình có hình khác nhau, đổ nước vào túi bóng rồi buộc lại, đổ nước vào chiếc cốc ... sau đó cho trẻ để vào tủ đá -> lấy ra quan sát và nêu cảm nhận. + Thí nghiệm “Đường biến đâu mất rồi?”: Chuẩn bị cho mỗi trẻ 2 chiếc cốc thủy tinh (Đánh dấu cốc bằng chữ số hoặc viền mầu ...). Cho trẻ đổ nước vào 2 chiếc cốc, sau đó lấy đường (muối) cho vào cốc có viền mầu đỏ (Cốc số 1) khuấy đều, Lấy bột gạo cho vào cốc có viền mầu xanh (Cố số 2) khuấy đều -> Quan sát và đưa ra kết luận. + Cho trẻ làm thí nghiệm về các giác quan ... + Cho trẻ khám phá về mầu sắc bằng cách cho trẻ làm thí nghiệm với mầu sắc. - Cho làm thí nghiệm “Sắc mầu biến hình”: Chuẩn bị chai nhựa trắng, đổ đầy nước vào trong chai, lấy giấy A4 vẽ hình 1 số loại quả (con vật; bông hoa ...) cắt thành hình rỗng, dán vào chai nhựa -> Sau đó cho trẻ lấy mầu nước cho vào chai, xoáy chặt nắp chai lại và lắc đều, cùng nhau quan sát kết quả -> Đưa ra kết luận 16 - Hoặc cho trẻ làm thí nghiệm “Đậm nhạt”: Chuẩn bị 2 bát nước có được kí hiệu bát số 1 và số 2 (Hoặc đánh dấu viền đỏ, viền xanh ...), cho trẻ đong nước cho vào 2 bát nước sao 2 bát có lượng nước bằng nhau, sau đó cho trẻ đong mầu vào 2 bát nước (Đong bằng cách đếm số thìa). Bát số 1 đong 2 hai thìa mầu, nhưng bát số 2 cho 6 thìa mầu, trẻ vừa đong vừa đếm số thìa -> khuấy đều (Hoặc cho trẻ làm ngược lại: Cho 2 bát nước có lượng nước khác nhau, bát 1 ít nước, bát số 2 nhiều nước, mỗi bát cho 2 thìa mầu) -> Quan sát và nêu kết quả, giải thích kết quả thu được, giúp trẻ hiểu được sự đậm nhạt trong thí nghiệm này. 17 - Hoặc cho trẻ làm thí nghiệm lấy mầu pha trộn với nhau -> Quan sát và nêu kết quả ... Cho trẻ khám phá sắc mầu từ những viên kẹo mầu ... + Cho trẻ làm thí nghiệm với quả trứng ... + Cho trẻ khám phá về bông hoa: Dùng kính lúp để soi bông hoa, khám phá xem bông hoa có cấu tạo như thế nào?; Thí nghiệm bông hoa nở ... + Cho trẻ khám phá về 1 số loại rau, củ, quả: Cho trẻ ngắm nhín, sờ, ngửi, bổ quả để khám phá bên trong của quả, rồi thử nếm vị của quả; + Cho trẻ khám phá mầu sắc từ rau, củ, quả: Cho trẻ lấy rau ngót, củ nghệ đỏ, củ rền, quả thanh long đỏ sau đó giã ra và lọc lấy nước -> Cho trẻ quan sát mầu sắc từ rau củ, quả -> Trò chuyện về việc sử dụng những mầu sắc đó trong thực tế -> Sau đó cho trẻ dùng nước mầu từ rau, củ, quả đó để vẽ tranh, in hình, nhuộm vải ... 18 19 => Việc cho trẻ được khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm nhiều, trẻ được sử dụng một số công cụ, nguyên vật liệu thường xuyên sẽ giúp trẻ phát triển rất nhiều về kĩ năng, nhận thức, ngôn ngữ, tinh thần học tập của trẻ. Giúp trẻ luôn tự tin trong mọi hoạt động. * Góc Thiên nhiên. - Ở góc thiên nhiên tôi cho trẻ khám phá khoa học qua thực hành, trải nghiệm với một số thí nghiệm như: Thí nghiệm “Tạo bọt”: Tôi tổ chức cho trẻ cùng làm thí nghiệm như sau: Cho trẻ lấy cốc múc nước đổ vào chai nhựa, bát nhựa, cốc giấy ... sau đó cho xà phòng vào khuấy đều, lắc đều -> Nêu nhận xét ...
File đính kèm:
bien_phap_nham_nang_cao_to_chuc_hoat_dong_kham_pha_khoa_hoc.docx
