Một số biện pháp dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 5-6 tuổi A1 trong trường mầm non Đồng Hưu
- Thế giới ngày nay ngày càng phát triển hội nhập, mọi thứ đang thay đổi với tốc độ nhanh chóng, đẩy con người tiến lên phía trước. Tuy nhiên, có 1 điều chúng ta phải giữ gìn và phát huy, đó là bản sắc văn hóa dân tộc. Như một câu nói của một tiền bối đã được cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc đến “Văn hóa là bản sắc của dân tộc, văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất”.
- Nhưng thực tế hiện nay, đặc biệt là giới trẻ hay những em học sinh, họ thường hướng đến những thứ hiện đại hơn, tiên tiến hơn, hướng ngoại để bắt strend với thời đại đổi mới làm cho những giá trị truyền thống ngày càng mất dần đi. Trẻ không biết những giá trị văn hóa của dân tộc mình có ý nghĩa như thế nào, những nét văn hóa của dân tộc mình ra sao, có những trẻ còn không biết mình là người dân tộc, thậm trí trẻ còn ngại và xấu hổ không dám nhận mình là người dân tộc.
- Để mỗi đứa trẻ có những hiểu biết về nét đẹp văn hóa của dân tộc như trang phục, phong tục tập quán, ngôn ngữ của dân tộc thì các hoạt động giáo dục về những nét đẹp đó phải được thực hiện thường xuyên.
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TRƯỜNG MẦM NON ĐỒNG HƯU ****** BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM DỰ HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN CHU KỲ 2024-2026 Tên biện pháp: “Một số biện pháp dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 5-6 tuổi A1 trong trường mầm non Đồng Hưu” Họ và tên: Phương Thị Tuyền Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Đối tượng giảng dạy: Mẫu giáo 5-6 tuổi Chức vụ: Giáo viên Đồng Hưu, tháng 12 năm 2024 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ - Thế giới ngày nay ngày càng phát triển hội nhập, mọi thứ đang thay đổi với tốc độ nhanh chóng, đẩy con người tiến lên phía trước. Tuy nhiên, có 1 điều chúng ta phải giữ gìn và phát huy, đó là bản sắc văn hóa dân tộc. Như một câu nói của một tiền bối đã được cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc đến “Văn hóa là bản sắc của dân tộc, văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất”. - Nhưng thực tế hiện nay, đặc biệt là giới trẻ hay những em học sinh, họ thường hướng đến những thứ hiện đại hơn, tiên tiến hơn, hướng ngoại để bắt strend với thời đại đổi mới làm cho những giá trị truyền thống ngày càng mất dần đi. Trẻ không biết những giá trị văn hóa của dân tộc mình có ý nghĩa như thế nào, những nét văn hóa của dân tộc mình ra sao, có những trẻ còn không biết mình là người dân tộc, thậm trí trẻ còn ngại và xấu hổ không dám nhận mình là người dân tộc. - Để mỗi đứa trẻ có những hiểu biết về nét đẹp văn hóa của dân tộc như trang phục, phong tục tập quán, ngôn ngữ của dân tộc thì các hoạt động giáo dục về những nét đẹp đó phải được thực hiện thường xuyên. - Thực tế lớp tôi có nhiều trẻ là người dân tộc thiểu số như Tày, Nùng và trẻ dân tộc Nùng chiếm hơn 60% nhưng trẻ lại không biết nói tiếng dân tộc Nùng, không có khả năng nghe hiểu tiếng dân tộc Nùng. Thực hiện đề án và kế hoạch của cấp trên, tôi luôn có suy nghĩ trăn trở làm thế nào để phát huy tiếng dân tộc thiểu số, tăng cường tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ, để những giá trị văn hóa được giữ gìn và phát huy. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi A1 trong trường mầm non Đồng Hưu” PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác tổ chức dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 5-6 tuổi A1 trường mầm non Đồng Hưu 1.1. Ưu điểm *Giáo viên : - Tôi đã được đào tạo đạt trình độ Đại học, là một giáo viên có kinh nghiệm dạy lớp mẫu giáo, có tinh thần học hỏi, nhiệt tình trong giảng dạy, yêu nghề mến trẻ, nắm được tâm sinh lý của trẻ và những xu hướng phát triển của trẻ, luôn tìm tòi vận dụng các phương pháp, hình thức đổi mới vào các hoạt động nhằm thu hút trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động. - Bản thân được trực tiếp tham dự các buổi tập huấn chuyên môn do Phòng GD&ĐT tổ chức, trong đó có chuyên đề nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ vùng dân tộc thiểu số, được học tập đúc rút kinh nghiệm qua thăm lớp dự giờ đồng nghiệp nên học hỏi được nhiều kinh nghiệm bổ ích để áp dụng vào đề tài. - Bản thân là người dân tộc Nùng, có khả năng nói, nghe hiểu tiếng dân tộc Nùng. *Trẻ em: - Trẻ học đúng độ tuổi, đến trường được sống trong môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, lành mạnh, luôn yêu mến, gần gũi và tin tưởng cô giáo là yếu tố vô cùng thuận lợi cho việc giáo dục dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng. - 22/26 trẻ là người dân tộc, trong đó có 16 trẻ là người dân tộc Nùng, có ông bà biết nói tiếng dân tộc nên đã từng được nghe tiếng dân tộc Nùng. *Phụ huynh: Phụ huynh có sự tin tưởng đối với công tác chăm sóc, nuôi dưỡng - giáo dục trẻ của nhà trường nên đã quan tâm và cho con đi học đúng độ tuổi và chấp hành tốt nội quy của trường, lớp...tạo mọi điều kiện tốt nhất cho nhà trường cũng như bản thân tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ. *Nhà trường: - Nhà trường luôn quan tâm giúp đỡ về chuyên môn xây dựng phương pháp đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục, tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ. - Nhà trường là đơn vị thực hiện điểm đề án “tăng cường tiếng việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ”. Đầu tư xây dựng khu vui chơi “Bản sắc quê bé” với các trang phục, đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động giáo dục song ngữ cho trẻ. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Giáo viên - Đã đầu tư về đồ dùng đồ chơi, trang phục cho trẻ hoạt động nhưng còn chưa được thường xuyên. - Việc lựa chọn nội dung giáo dục, thiết kế hoạt động giáo dục dạy tiếng dân tộc cho trẻ còn lúng túng, chưa đổi mới về hình thức theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm. - Công tác phối hợp, tuyên truyền phụ huynh học sinh giáo dục song ngữ cho trẻ thực hiện đạt hiệu quả chưa cao. * Nguyên nhân: - Do trang phục, đồ dùng cho trẻ tham gia hoạt động giáo dục song ngữ có chi phí cao. - Chưa dành nhiều thời gian để nghiên cứu, thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục song ngữ cho trẻ. - Phụ huynh đang trong độ tuổi đi làm công ty cả ngày nên để trẻ ở nhà cho ông bà chăm sóc dẫn đến việc trao đổi thông tin, nề nếp của trẻ còn hạn chế. 1.2.2.Trẻ em - Trẻ chưa có vốn từ về tiếng dân tộc Nùng, chưa có khả năng nghe hiểu và nói tiếng dân tộc Nùng. - Trẻ còn chưa hứng thú với hoạt động giáo dục dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng. * Nguyên nhân: - Tuy là người dân tộc nhưng trẻ dùng tiếng Việt để giao tiếp là chủ yếu và không được ông bà bố mẹ dạy tiếng mẹ đẻ. - Hoạt động giáo dục song ngữ chưa lôi cuốn trẻ. 1.2.3.Phụ huynh - Phụ huynh chưa quan tâm và chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc, không dành thời gian khuyến khích dạy trẻ nói tiếng dân tộc Nùng. - Nhiều cha mẹ trẻ chỉ có khả năng nghe hiểu mà không biết nói tiếng dân tộc Nùng. *Nguyên nhân - Do nhận thức của các phụ huynh không đồng đều, học không coi trọng việc nói tiếng dân tộc và họ ngại, xấu hổ khi nói tiếng dân tộc. - Một số phụ huynh đi làm ăn xa, sống trong môi trường không có người dân tộc nên họ thường sử dụng tiếng Việt để giao tiếp mà dần quên đi cách nói tiếng dân tộc. 1.2.4.Nhà trường Việc cung cấp các tài liệu cụ thể hướng dẫn giáo viên thực hiện giáo dục song ngữ dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng còn gặp nhiều khó khăn. *Nguyên nhân - Do tiếng dân tộc Nùng không có chữ viết cụ thể. - Tiếng dân tộc Nùng là tiếng mẹ đẻ mang tính địa phương, mỗi vùng miền có một cách phát âm khác nhau nên khó tìm ra một tài liệu cụ thể về việc hướng dẫn. *Khảo sát ban đầu: Vào đầu năm học Trước khi áp dụng các biện pháp, tôi tiến hành khảo sát với 26 trẻ trên một số nội dung. Kết quả khảo sát như sau: Số lượng Trước khi áp dụng Nội dung khảo sát trẻ Số trẻ đạt Trẻ chưa đạt Trẻ hứng thú, tự giác, tích cực tham gia vào hoạt động giáo dục dạy trẻ làm quen 26 5 = 19% 21 = 81% với tiếng dân tộc Nùng Trẻ có khả năng nghe hiểu các từ đơn giản 26 2= 7,7% 22=92,3% bằng tiếng dân tộc Nùng Trẻ có vốn từ phong phú hơn (nói được 26 2=7,7% 22=92,3% nhiều từ bằng tiếng dân tộc Nùng) Khả năng phát âm chuẩn, chính xác các 26 1=3,8% 25= 96,2% từu đơn giản bằng tiếng dân tộc Nùng Từ những kết quả trên tôi đã đưa ra những: “Một số biện pháp dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi A1 trong trường mầm non Đồng Hưu” 2. Biện pháp tổ chức dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi A1 trong trường mầm non Đồng Hưu 2.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường và kế hoạch giáo dục song ngữ 2.1.1. Nội dung biện pháp - Xây dựng môi trường trong lớp mang bản sắc dân tộc - Xây dựng khu vui chơi ngoài trời mang bản sắc dân tộc - Xây dựng kế hoạch giáo dục chú trọng đến nội dung GD dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng. 2.1.2. Cách thức quá trình áp dụng biện pháp a. Xây dựng môi trường trong lớp mang bản sắc dân tộc Môi trường lớp học an toàn, thân thiện và thẩm mĩ sẽ tạo hứng thú cho trẻ và bản thân giáo viên góp phần lôi cuốn trẻ vào các hoạt động giáo dục song ngữ. Nhận thức được điều đó tôi đã trao đổi và cùng thống nhất với giáo viên trong lớp về kế hoạch, biện pháp trang trí sắp xếp tạo môi trường, các góc hoạt động trong lớp phù hợp với diện tích lớp cũng như các đồ dùng đồ chơi trong lớp phù hợp với tâm sinh lý trẻ, có tính thẩm mỹ và tích cực đối với trẻ: - Tôi đã xây dựng góc “Bản sắc quê nọong” để đưa những nét văn hóa của dân tộc cho trẻ tìm hiểu như: trang phục dân tộc (quần, áo, khăn, túi), các dụng cụ âm nhạc của dân tộc (đàn tính, xóc nhạc, khèn), các hình ảnh, sách báo, tập san về các phong tục tập quán của dân tộc. - Với quan điểm xây dựng trường mầm non “ lấy trẻ làm trung tâm” tôi tận dụng tối đa các sản phẩm của trẻ để trang trí lớp, trẻ được cùng cô cắt dán các sản phẩm để trang trí các góc. Từ những miếng vải, bìa cát tông, sách báo cũ, ống sữa, chai nhựa... làm ra các đồ dùng đồ chơi phù hợp với văn hóa và điều kiện thực tế của nhóm lớp: album các trang phục dân tộc, đàn, trống..., các buổi chơi trẻ được hoạt động với chính sản phẩm của mình đã làm nên trẻ rất thích thú. Hình ảnh góc “Bản sắc quê nọong” tại lớp b.Xây dựng khu vui chơi ngoài trời mang bản sắc dân tộc - Khu vui chơi ngoài trời không chỉ là nơi trẻ được hít thở không khí trong lành cùng thiên nhiên, được thỏa sức vui chơi theo ý thích mà còn là nơi trẻ học được bao điều hay lý thú bằng hình thức “Học bằng chơi, chơi mà học”. - Tôi đã phối hợp với đồng nghiệp trang trí, sưu tầm và làm đồ dùng đồ chơi cho khu vui chơi ngoài trời “Bản sắc quê bé”, có không gian trưng bày sản phẩm của dân tộc (như trang phục dân tộc) , dụng cụ lao động của dân tộc (gùi, thúng, liềm, làn...), nét văn hóa của dân tộc (đàn tính, khèn, xóc nhạc...) gắn với phong tục của địa phương. Với những trang trí như vậy tôi đã lôi cuốn được sự hứng thú của trẻ tham gia vào các hoạt động giáo dục song ngữ. Hình ảnh khu vui chơi ngoài trời “Bản sắc quê bé” c. Xây dựng kế hoạch giáo dục chú trọng đến nội dung GD song ngữ cho trẻ - Thực hiện kế hoạch số 196/KH-TMN ngày 26/9/2024 kế hoạch thực hiện mô hình giáo dục song ngữ “tăng cường tiếng việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ” năm học 2024-2025 của trường mầm non Đồng Hưu. - Bản thân được giao nhiệm vụ lớp điểm thực hiện mô hình nên ngay từ đầu năm học khi xây dựng kế hoạch giáo dục tôi đã chú trọng đưa nội dung giáo dục dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng vào kế hoạch giáo dục phù hợp theo từng chủ đề. Đồng thời tôi tham mưu với nhà trường xây dựng kế hoạch chương trình cụ thể từng đề tài cho năm học với những nội dung phù hợp với độ tuổi và đặc điểm học sinh của lớp: Chủ đề Thứ, ngày, tháng, năm Nội dung hoạt động Thứ năm (03/10/2024) Làm quen số đếm từ 1-5 Bản thân Thứ năm (10/10/2024) Ôn tập các từ đã học Thứ năm (17/10/2024) Làm quen từ: Tay, chân, mắt, miệng Thứ năm (24/10/2024) Ôn tập các từ đã học Thứ năm (31/10/2024) Làm quen từ: Bát, thìa, đũa, cốc Gia đình Thứ năm (7/11/2024) Ôn tập các từ đã học Thứ năm (14/11/2024) Làm quen từ: Bố, mẹ, anh, em Thứ năm (21/11/2024) Ôn tập các từ đã học Nghề Thứ năm (28/11/2024) Làm quen từ: Cuốc, xẻng, cấy lúa nghiệp Thứ năm (05/12/2024) Ôn tập các từ đã học Thứ năm (12/12/2024) Làm quen số đếm từ 6-10 Thứ năm (19/12/2024) Ôn tập các từ đã học Thứ năm (26/12/2024) Làm quen từ: Con gà, con mèo, con chó. Động vật Thứ năm (9/1/2025) Làm quen từ: Con cá, con cua, con tôm Thứ năm (16/01/2025) Ôn tập các từ đã học Thứ năm (23/1/2025) LQ từ: Dọn nhà, bánh trưng, chúc mừng Tết -mùa Thứ năm (06/2/2025) Ôn tập các từ đã học xuân Thứ năm (13/2/2025) LQ từ: Hoa đào, hoa mai, hoa cúc Thứ năm (20/2/2025) Làm quen từ: Cây mít, cây chuối, cây nhãn Thực vật Thứ năm (27/2/2025) Làm quen từ: Gạo, ngô, khoai, sắn Thứ năm (6/3/2025) Ôn tập các từ đã học Nước và Thứ năm (13/3/2025) Làm quen từ: Nắng, mưa, nóng, lạnh HTTN Thứ năm (20/3/2025) Làm quen từ: Mũ, quần, áo, đôi dép Thứ năm (27/3/2025) Ôn tập các từ đã học Thứ năm (3/4/2025) Làm quen từ: Xe, đi đường, ngồi. Thứ năm (10/4/2025) Ôn tập các từ đã học Giao thông Thứ năm (17/4/2025) Làm quen từ: Lấy, cho, hộ, giúp Thứ năm (24/4/2025) Ôn tập các từ đã học Thứ năm (8/5/2025) Làm quen từ: Thôn, nhà, núi, đồi QH-ĐN- Thứ năm (15/5/2025) Làm quen từ: Mật ong, Quả vải, quả mít BH-TTH Thứ năm (22/5/2025) Ôn tập các từ đã học Kế hoạch chương trình giáo dục dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Kết quả từ việc xây dựng môi trường mang bản sắc dân tộc tôi đã tạo cho trẻ một môi trường hoạt động phong phú, hấp dẫn, thu hút trẻ. Giúp trẻ tích cực, tự giác tham gia vào các hoạt động giáo dục song ngữ. Khảo sát 26/26 học sinh của lớp 5-6 tuổi A1 Trước khi áp Số Sau khi áp dụng dụng Ghi lượng Nội dung khảo sát Số trẻ Số trẻ chú trẻ Tỉ lệ% Tỉ lệ% đạt đạt Trẻ hứng thú, tự giác, tích cực tham gia vào hoạt động Tăng 26 5 19% 22 86% giáo dục dạy trẻ làm quen 67% với tiếng dân tộc Nùng (Kết quả được khảo sát tại thời điểm tháng 12/2024) 2.2. Biện pháp 2: Dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi lớp A1 vào các hoạt động hàng ngày 2.2.1. Nội dung biện pháp - Tổ chức hoạt động học dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng - Lồng ghép trong các hoạt động hàng ngày 2.2.2. Cách thức quá trình áp dụng biện pháp a. Tổ chức hoạt động học: * Tổ chức hoạt động học dạy tiếng dân tộc Nùng - Hoạt động học là hoạt động được tổ chức có sự định hướng và hướng dẫn trực tiếp của cô giáo. Nội dung dạy được tổ chức có hệ thống theo sát mục đích yêu cầu, kế hoạch đã được hoạch định trong giáo án nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng, thái độ cho trẻ giúp trẻ hiểu để trẻ cảm nhận đầy đủ và sâu sắc nội dung bài học liên quan đến tiếng dân tộc Nùng. -Ví dụ: Ở chu đề “Gia đình” tôi thực hiện đề tài dạy trẻ làm quen các từ “Bố, mẹ, anh, em” *Mục đích- yêu cầu : * Kiến thức - Cung cấp kiến thức + Trẻ phân biệt và nói được các từ “Pá - Bố”, “Mế - Mẹ”; “Cố - Anh”; “Noọng - Em” bằng tiếng dân tộc Nùng, tiếng Việt. + Trẻ biết cách chơi các trò chơi “Ai nhanh nhất”, “Về đúng nhà”, “Ai thông minh”. - Củng cố kiến thức + Củng cố cho trẻ một số từ đã học bằng tiếng dân tộc Nùng như đếm từ 1 đến 4 (Nơng, flong, flam, fli). +Củng cố cho trẻ biết gia đình nhỏ, gia đình lớn + Trẻ biết hát 1 số bài hát trong chủ đề. Kỹ năng - Cung cấp kỹ năng + Phát triển kỹ năng nói đủ câu, rõ ràng, mạch lạc các từ: “Pá - Bố”, “Mế - Mẹ”; “Cố - Anh”; “Noọng - Em” bằng tiếng dân tộc Nùng kết hợp tiếng Việt. - Củng cố kỹ năng + Củng cố cho trẻ kỹ năng nhanh nhẹn, khéo léo, chú ý, ghi nhớ có chủ định . Thái độ + Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động, chơi đoàn kết, yêu thích hoạt động làm quen với tiếng dân tộc Nùng. + Giáo dục trẻ yêu thương những người thân trong gia đình, giữ gìn và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. *CHUẨN BỊ Đồ dùng của cô - Giáo án đầy đủ - Tivi, các thiết bị điện tử, que chỉ - Powerpoint về các tành viên trong gia đình - Slide ảnh về các từ: Bố, mẹ, anh, em. - Nhạc 1 số bài hát trong chủ đề. - 4 tranh về bố, mẹ, anh, em . Đồ dùng của trẻ - Trang phục dân tộc - Lô tô về bố, mẹ, anh, em. - Ngôi nhà chơi trò chơi - Thẻ số - Nhạc bài hát “Nhà của tôi” chơi trò chơi - Vị trí giờ học, đủ chỗ ngồi, không gian cho trẻ tham gia các hoạt động. - Trang phục gọn gàng, phù hợp. *CÁCH TIẾN HÀNH Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ 1. Hoạt động 1. Gây hứng thú (1-2 phút) - Giới thiệu chương trình “ Ngày hội tiếng dân tộc Nùng" chủ đề Gia đình gồm 3 phần. + Phần 1: Tài năng của bé - Trẻ hưởng ứng cùng cô. + Phần 2: Tìm hiểu kiến thức + Phần 3: Trò chơi vui nhộn - Cho trẻ chào các cô bằng tiếng dân tộc Nùng - Cả lớp : "Kí lan chao cô giao" 2. Hoạt động 2. Bài mới (28-30 phút) 2.1. Phần 1: Tài năng của bé: Ôn lại các từ đã học - Phần “Tài năng của bé” các con sẽ được xem màn trình diễn thời trang của 4 siêu mẫu nhí lớp 5-6 tuổi A1 với những bộ trang phục dân tộc rất đẹp. Xin mời các siêu mẫu. - 4 bạn đi vào ra mắt - Xin mời siêu mẫu số 01 - 1 trẻ đi vào trình diễn sau đó trẻ giới thiệu về bản thân mình (sử dụng tiếng dân tộc Nùng đã học) - Bạn Nhã Uyên mặc trên mình bộ quần áo của dân tộc nào ? - Trang phục dân tộc Nùng ạ - Trẻ lên trình diễn và giới thiệu của bạn Thu Trang. - Chúng mình thấy các siêu mẫu nhí hôm nay như thế nào ? - Rất xinh đẹp ạ -> Cô cho trẻ xem video về các thành viên gia đình bạn Bi. - Trẻ xem video - Gia đình của Bi có mấy người? - Gia đình bạn Bi có 4 người ạ - Cho trẻ đếm bằng tiếng dân tộc Nùng. - Nơng, flong flam, flis. - Gia đình bạn Bi được gọi là gia đình gì? - Gia đình nhỏ - Gia đình bạn nào là gia đình nhỏ giống gia đình của bạn Bi? - Trẻ giơ tay - Những bạn còn lại gia đình có những ai? - Trẻ kể và trả lời câu hỏi Được gọi là gia đình gì? => GĐ trẻ luôn yêu thương, quan tâm người - Trẻ lắng nghe thân trong gia đình. 2.2. Phần thứ 2. “Tìm hiểu kiến thức”- Dạy từ mới: “Pá - Bố”, “Mế - Mẹ”; “Cố - Anh ”; “Nọong - Em” - Cho trẻ lấy rổ đồ dùng - Trẻ lấy rổ đồ dùng - Trong rổ có hình ảnh của ai ? - H/a của bố, mẹ, anh và em ạ + Làm quen từ. “Pá - Bố” - Cả lớp " Trốn cô " - Trẻ nhắm mắt - Cô đâu cô đâu - Trẻ mơ mắt - Cô chiếu hình ảnh Bố cho trẻ quan sát, cô có hình ảnh ai đây ? - Hình ảnh của bố ạ - Bố trong tiếng dân tộc nùng nói là " Pá " các con lắng nghe cô đọc nhé - Cô phát âm từ "Pá " 3 lần - Trẻ lắng nghe cô đọc -> Pá trong tiếng việt nghĩa là "Bố" - Cô cho cả lớp nói - Cả lớp nói " Pá " -"Pá " nghĩa trong tiếng việt là gì ? -Là "Bố " ạ. - Cô cho tổ, nhóm, cá nhân thực hiện (Cô và - Từng tổ, nhóm, cá nhân trẻ các bạn nhận xét) thực hiện. - Pá trong tiếng việt là gì ? - Là Bố ạ - Cô củng cố lại : Cô và các con vừa được - Trẻ lắng nghe. làm quen với từ " Pá " bằng tiếng dân tộc Nùng nghĩa Tiếng việt là ‘Bố’ + Làm quen từ. “Mế - Mẹ”, “Cố - anh”, - Trẻ thực hiện theo yêu cầu của “Noọng - em”: Cô thực hiện tương tự như cô làm quen với từ “Pá-bố” => Các con được làm quen với những từ gì - Pá, Mế, Cố, Nọong ? Trong tiếng việt nghĩa là gì? - Bố, Mẹ, Anh, Em -> GD trẻ bảo tồn và gìn giữ tiếng dân tộc này nhé. - Trẻ lắng nghe 2.3. Phần thứ 3. Củng cố "Trò chơi vui nhộn" a.Trò chơi 1: Ai nhanh nhất - Cách chơi: Chúng mình sẽ chọn hình ảnh theo yêu cầu của cô, giơ lên và nói bằng - Trẻ lắng nghe tiếng dân tộc Nùng. - Luật chơi: Bạn nào làm đúng theo yêu cầu sẽ là người chiến thắng, bạn nào làm sai sẽ phải tìm và đọc lại. - Cô tổ chức cho trẻ chơi trò chơi. - Trẻ chơi trò chơi b. Trò chơi 2: Về đúng nhà - Cách chơi. Các con vừa đi thành vòng tròn - Trẻ lắng nghe vừa hát. Khi có hiệu lệnh "về đúng nhà" thì các con sẽ nhanh chân về ngôi nhà có hình ảnh giống với hình ảnh cầm trên tay và nói tên hình ảnh bằng tiếng dân tộc Nùng - Luật chơi : Bạn nào về nhầm sẽ phải nhảy lò cò về đúng nhà và nói lại tiếng dân tộc Nùng cho đúng. - Tổ chức cho trẻ chơi - Trẻ chơi trò chơi c.Trò chơi 3 : Ai thông minh - Cách chơi : Trên màn hình cô có các câu - Trẻ lắng nghe hỏi và các đáp án. Nhiệm vụ của các con là lắng nghe và chọn đáp án đúng giơ lên và đọc đúng đáp án bằng tiếng dân tộc Nùng. - Luật chơi. Mỗi 1 lần chơi chỉ được chọn 1 đáp án đúng, nếu sai phải chọn lại đáp án đúng và nói lại bằng tiếng dân tộc Nùng - Tổ chức cho trẻ chơi - Trẻ chơi trò chơi sôi nổi d. Trò chơi 4 : Quà tặng âm nhạc - Vừa rồi cô thấy các con học rất ngoan và chơi trò chơi rất xuất sắc ngay bây giờ cô mời các con cùng thưởng thức một lần điệu hát then, một làn điệu của dân tộc Tày, Nùng qua bài hát " Lập xuân". Cô mời 4 bạn lớp - 4 trẻ lên lấy dụng cụ âm nhạc mình sẽ lên hát và phụ họa cùng cô. hát và phụ họa cùng cô. 3. Hoạt động 3: Kết thúc(1-2 phút) - Cho trẻ vđ theo bản nhạc " Vũ điệu đoàn kết" - Trẻ vận động - Vũ điệu đoàn kết đã khép lại chương trình Ngày hội tiếng dân tộc nùng. Xin chào và hẹn gặp lại. Thân ái, chao pỉ nọong ! -Trẻ chào cô. Hình ảnh trẻ trong hđ dạy tiếng dân tộc Nùng “ Làm quen từ Bố, mẹ, anh, em” *Lồng ghép trong hoạt động học khác: Ngoài ra, việc dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng còn được lồng ghép trong các hoạt động học khác như làm quen với toán, khám phá, tạo hình, giáo dục âm nhạc..v..v. Việc thay đổi hình thức giáo dục trong các hoạt động học luôn thu hút trẻ, giúp trẻ hứng thú tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng và còn lồng ghép các nội dung giáo dục song ngữ một cách dễ dàng hơn. Ví dụ: Trong hoạt động làm quen với toán “Đếm, nhận biết nhóm đối tượng có số lượng 6, nhận biết số 6”, tôi lồng ghép cho trẻ đếm bằng tiếng dân tộc Nùng đan xem với đếm bằng tiếng Việt trong các phần của tiết học từ phần ôn tập, đến phần đếm và nhận biết số, đến phần trò chơi luyện tập trẻ đếm các đối tượng bằng tiếng dân tộc Nùng (nơng, flong, flam, fli, hả, húc) và trẻ đã rất hứng thú thực hiện. Từ đó tôi không chỉ dạy trẻ biết đếm, nhận biết số 6 mà còn ôn lại số đếm bằng tiếng dân tộc Nùng cho trẻ. Hình ảnh trẻ tham gia HĐ làm quen với toán Hay trong hoạt động giáo dục âm nhạc “Biểu diễn cuối chủ đề Gia đình”, tôi lồng ghép các từ bằng tiếng dân tộc Nùng qua các bài hát trẻ hát. Trẻ hát bài “Cả nhà đều yêu”, tôi hỏi trẻ “Trong bài hát nhắc đến ai?” Trẻ trả lời tôi yêu cầu trẻ nói bằng tiếng dân tộc Nùng (Mế, pá, noọng, cô giao...). Đồng thời, trong phần nghe hát, tôi kết hợp hát cho trẻ nghe và cảm nhận về làn điệu hát then của dân tộc Nùng, khi trò chuyện với trẻ về bài hát, tôi giới thiệu về trang phục, các phong tục tập quán cuả dân tộc. Qua đó cho trẻ biết những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc, giáo dục trẻ giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đó. Hình ảnh trẻ tham gia HĐ âm nhạc b. Lồng ghép trong các hoạt động hàng ngày Bản thân tôi tăng cường giao tiếp với trẻ bằng tiếng dân tộc Nùng và tiếng Việt thông qua các hoạt động để tạo cơ hội giao tiếp cho trẻ mọi lúc mọi nơi, phát triển tối đa tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ. Khuyến khích trẻ sử dụng tiếng dân tộc Nùng khi tham gia các hoạt động: * Hoạt động đón trả trẻ và trò chuyện Trong hoạt động đón trả trẻ và trò chuyện tôi sẽ cho trẻ ôn lại các từ mà trẻ đã biết và mở rộng thêm một số từ đơn giản khác, hướng dẫn trẻ phát âm một cách chính xác nhất các từ. Từ việc thường xuyên được nhắc lại bằng tiếng dân tộc Nùng và tiếng Việt sẽ giúp trẻ khắc sâu hơn và nhớ lâu hơn các từ. Ngoài ra, khi đặt câu hỏi để hỏi trẻ tôi sẽ sử dụng tiếng dân tộc Nùng, sau đó nói lại bằng tiếng Việt để hỏi trẻ. - Ví dụ: Trong chủ đề “Gia đình”, với kế hoạch đã xây dựng là trẻ biết từ chỉ các thành viên trong gia đình thì khi trẻ đến lớp tôi sẽ hỏi trẻ bằng tiếng dân tộc Nùng “Vằn nảy cần nầy tái lục pây toọc flư?” và dịch sang tiếng Việt “Hôm nay ai đưa con đi học?” để trẻ hiểu. Khi trẻ trả lời tôi sẽ yêu cầu trẻ nói bằng tiếng dân tộc Nùng để trẻ được củng cố lại các từ cô đã dạy như “Bố, mẹ, anh, em”- “Pá, mế, cố, noọng” và mở rộng thêm các từ “ông, bà, chị, bác...”- “Cống, pò, chế, giế...”. Hay trong hoạt động trò chuyện tôi cho trẻ giới thiệu về các thành viên trong gia đình mình và cho trẻ nhắc lại các thành viên bằng tiếng dân tộc Nùng. Nhờ việc được giao tiếp nói bằng tiếng dân tộc thường xuyên như vậy mà trẻ sẽ nhớ nhanh và nhớ lâu hơn. Từ đó không chỉ giúp tăng vốn từ cho trẻ mà còn giúp trẻ nói tiếng dân tộc một cách chính xác hơn. * Hoạt động ngoài trời Trẻ được thực hành, trải nghiệm, thăm quan trong các hoạt động sẽ tạo điều kiện cho trẻ được luyện nói nhiều nhằm phát triển tiếng mẹ đẻ của trẻ. Mà hoạt động ngoài trời là hoạt động mà trẻ được thăm quan, trải nghiệm, thực hành thường xuyên nhất. Chính vì vậy tôi thường lồng ghép cho trẻ sử dụng tiếng dân tộc Nùng trong hoạt động này. Thông qua các hoạt động quan sát những sự vật hiện tượng như cây xanh, cây ăn quả, cây hoa, vườn rau, thời tiết, đồ chơi ngoài trời... tôi giới thiệu các từ bằng tiếng dân tộc Nùng, từ việc được tư duy trực quan kết hợp với sử dụng tiếng dân tộc Nùng như vậy sẽ giúp trẻ nhớ nhanh hơn. - Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát cây đu đủ, tôi phát âm từ cây đu đủ bằng tiếng dân tộc Nùng (co pục flung) cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại. Và vào các hoạt động sau khi nhìn thấy cây đu đủ, tôi sẽ cho trẻ nhắc lại bằng tiếng dân tộc Nùng (co pục flung). Cứ như vậy trẻ sẽ vừa được trực quan vừa được nói tiếng dân tộc giúp trẻ nhớ lâu hơn. Đặc biệt tôi thường tổ chức cho trẻ hoạt động tại khu vui chơi ngoài trời “Bản sắc quê bé”, nơi trẻ được hoạt động với các đồ dùng dụng cụ, sản phẩm, trang phục hay nghe các giai điệu hát then của người dân tộc, của người dân địa phương, tìm hiểu những nét văn hóa của dân tộc và ôn lại các từ bằng tiếng dân tộc Nùng. Từ đó, hình thành cho trẻ có hứng thú với tiếng dân tộc Nùng, thích được giao tiếp bằng tiếng dân tộc, giúp vốn từ bằng tiếng dân tộc Nùng của trẻ được tăng lên. * Hoạt động vui chơi Trong hoạt động vui chơi, bên cạnh các góc chơi chính tôi cho trẻ tham gia chơi ở góc “Bản sắc quê Noọng”, tôi hướng dẫn trẻ cách sử dụng các dụng cụ, các trang phục dân tộc hay xem tranh ảnh về các hoạt động của dân tộc qua tạp chí, sách báo. Cô sẽ là người thúc đẩy để trẻ ôn lại các từ bằng tiếng dân tộc Nùng và giao lưu, liên kết giữa các nhóm để trẻ ở các nhóm khác cũng được tìm hiểu về các nét văn hóa của dân tộc. * Hoạt động ăn Hoạt động ăn là một hoạt động đặc trưng và không thể thiếu ở trường mầm non, được diễn ra 2 lần/ 1 ngày gồm hoạt động ăn trữa (bữa chính) và hoạt động ăn chiều (bữa phụ). Chính vì vậy việc lồng ghép cho trẻ làm quen tiếng dân tộc Nùng trong hoạt động này sẽ rất hiệu quả. Trong hoạt động này tôi sẽ cho trẻ nói các từ như: tên các món ăn đơn giản (cơm, canh, rau, thịt, cá, trứng) bằng tiếng dân tộc Nùng ( khảu, thang, pắc, nự, pa, sáy...), tên các đồ dùng ăn uống (bát - thủi, đũa - thú) hay là cụm từ “ăn cơm - kin khảu”...v..v. bằng tiếng dân tộc Nùng và tiếng Việt. Việc kết hợp vừa nói tiếng Việt và tiếng dân tộc Nùng giúp trẻ hiểu * Hoạt động ngủ Trong hoạt động ngủ tôi cho trẻ sử dựng tiếng dân tộc Nùng để chỉ các đồ dùng như: “giường - flàng”, “chăn - phà” , “chiếu - phục” hay cụm từ “đi ngủ - pây nòn”, “dậy - tấn”. Việc trẻ được nhắc lại nhiều lần kết hợp với các đồ dùng như vậy sẽ giúp trẻ nhớ lâu hơn. 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp - Kết quả sau khi giáo dục song ngữ cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng ở mọi lúc mọi nơi giúp trẻ hứng thú và tích cực nói tiếng dân tộc Nùng nhiều hơn. Trẻ có khả năng nghe hiểu các từ đơn giản bằng tiếng dân tộc Nùng,vốn từ tiếng dân tộc Nùng phong phú hơn. Khả năng phát âm tiếng dân tộc cũng chuẩn và chính xác hơn. Khảo sát 26/26 trẻ của lớp 5-6 tuổi A1 Trước khi áp Số Sau khi áp dụng dụng Ghi lượng Nội dung khảo sát Số trẻ Số trẻ chú trẻ Tỉ lệ% Tỉ lệ% đạt đạt Trẻ có khả năng nghe hiểu Tăng các từ đơn giản bằng tiếng 26 2 7,7% 19 73% 65,3% dân tộc Nùng Trẻ có vốn từ phong phú Tăng hơn (nói được nhiều từ bằng 26 2 7,7% 19 73% 65,3% tiếng dân tộc Nùng) Khả năng phát âm chuẩn, Tăng chính xác các từ đơn giản 26 1 3,8% 18 69% 65,2% bằng tiếng dân tộc Nùng (Kết quả được khảo sát tại thời điểm tháng 12/2024) 2.3. Biện pháp 3: Phối hợp với phụ huynh cùng tham gia dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng 2.3.1. Nội dung biện pháp Đa dạng hình thức tuyên truyền phối hợp với phụ huynh để góp phần nâng cao hiệu quả dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng cho trẻ lớp 5-6 tuổi A1. - 2.3.2. Cách thức quá trình áp dụng biện pháp Có thể nói cha mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ. Chính vì thế mà chúng ta có những vùng miền với cách nói và phát âm khác nhau. Trên thực tế, cha mẹ sử dụng ngôn ngữ nào thì con cái của họ cũng sẽ sử dụng ngôn ngữ đó. Và để trẻ có thể nói tiếng dân tộc Nùng được thì cha mẹ và những người thân của trẻ cũng phải biết và sử dụng tiếng dân tộc trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình. Biết được tầm quan trọng của các bậc phụ huynh như vậy nên để nâng cao chất lượng giáo dục trong hoạt động giáo dục song ngữ dạy tiếng dân tộc Nùng cho trẻ tôi luôn tích cực tuyên truyền cha mẹ trẻ cùng tham gia. Tôi đa dạng các hình thức tuyên truyền để việc tuyên truyền đạt hiệu quả cao hơn. - Đầu tiên, vào đầu năm học tôi tuyên truyền phụ huynh ủng hộ các nguyên vật liệu để trang trí lớp và ngày công lao động để cải tạo lại môi trường của nhà trường nói chung và của lớp 5 tuổi A1 nói riêng. Đặc biệt, với kế hoạch xây dựng góc “Bản sắc quê Noọng” tôi đã tuyên truyền phụ huynh ủng hộ những dụng cụ, trang phục dân tộc vì những dụng cụ này rất khó tìm. Và phụ huynh lớp tôi đã nhiệt tình hưởng ứng, không những ủng hộ quả xóc nhạc, trang phục dân tộc mà còn hỗ trợ tôi trong việc làm đồ dùng để trang trí góc. Phụ huynh ủng hộ nguyên vật liệu, đồ dùng trang trí lớp - Tôi tuyên truyền trực tiếp trong các giờ đón trả trẻ: Nói cho họ biết tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ trong việc giữ gìn và phát huy những nét đẹp văn hóa của dân tộc. - Tuyên tuyền qua bảng tuyên truyền: Tôi đưa các hình ảnh, những bài viết về việc giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa lên bảng tuyên truyền để phụ huynh có những hiểu biết rõ hơn về tiếng dân tộc. - Tuyên truyền qua nhóm zalo, trang wedsite, trang facebook của nhà trường: Do phụ huynh trẻ đa số đi làm ăn xa, làm công ty nên không có thời gia đưa đón trẻ nên việc tuyên truyền qua nhóm zalo là một hình thức tuyên truyền đạt hiệu quả cao nhất, đặc biệt với thời đại 4.0 này, tất cả các bậc phụ huynh đều sử dụng điện thoại thông minh, có tài khoản zalo, facebook. Việc kết nối với các bậc phụ huynh cũng dễ dàng hơn. Tôi đưa các hình ảnh, video trẻ tham gia hoạt động làm quen với tiếng dân tộc Nùng trên lớp lên nhóm zalo của lớp, trang wedsite, trang facebook của nhà trường để phụ huynh thấy được sự thích thú và tầm quan trọng của việc cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng. Ở nhóm zalo, tôi ghi âm cách phát âm các từ đã học bằng tiếng dân tộc Nùng, gửi lên nhóm lớp để phụ huynh cùng phối hợp ôn cho trẻ nói khi ở nhà và phụ huynh rất tích cực tham gia. Thường xuyên trao đổi với phụ huynh trên nhóm zalo Hay các tiết dạy cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng được đăng tải trên trang wedsite, trang facebook của nhà trường để các bậc phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng, từ đó tích cực cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc . - Tuyên truyền phụ huynh phối hợp cùng tham gia hoạt động giáo dục dạy tiếng dân tộc trên lớp: Đa số các bậc phụ huynh lớp tôi là người dân tộc, đều biết tiếng dân tộc, đặc biệt là các ông bà những người lớn tuổi nói rất chính xác. Nhưng do môi trường sống người dân thường giao tiếp bằng tiếng Việt, tiếng phổ thông nên việc sử dụng ngôn ngữ là tiếng dân tộc không thường xuyên được sử dụng, có nhiều người chỉ nghe hiểu mà không nói được tiếng dân tộc của mình. Để khơi dậy việc sử dụng tiếng mẹ đẻ đang dần bị quên lãng, tôi đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, khuyên khích phụ huynh tích cực sử dụng tiếng dân tộc trong sinh hoạt hàng ngày. Đồng thời phối hợp cùng cô giáo trong hoạt động giáo dục trẻ trên lớp. Và tôi thấy rằng, với sự tham gia của phụ huynh là người dân tộc Nùng, biết về các phong tục tập quán của đồng bào, biết nói chính xác ngôn ngữ dân tộc thì tiết dạy đã rất thu hút trẻ, trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động và việc tiếp nhận kiến thức cũng hiệu quả hơn.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_day_tre_lam_quen_voi_tieng_dan_toc_nung_gop.pdf
