Một số biện pháp dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 5-6 tuổi A1 trong trường mầm non Đồng Hưu

- Thế giới ngày nay ngày càng phát triển hội nhập, mọi thứ đang thay đổi với tốc độ nhanh chóng, đẩy con người tiến lên phía trước. Tuy nhiên, có 1 điều chúng ta phải giữ gìn và phát huy, đó là bản sắc văn hóa dân tộc. Như một câu nói của một tiền bối đã được cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc đến “Văn hóa là bản sắc của dân tộc, văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất”.

- Nhưng thực tế hiện nay, đặc biệt là giới trẻ hay những em học sinh, họ thường hướng đến những thứ hiện đại hơn, tiên tiến hơn, hướng ngoại để bắt strend với thời đại đổi mới làm cho những giá trị truyền thống ngày càng mất dần đi. Trẻ không biết những giá trị văn hóa của dân tộc mình có ý nghĩa như thế nào, những nét văn hóa của dân tộc mình ra sao, có những trẻ còn không biết mình là người dân tộc, thậm trí trẻ còn ngại và xấu hổ không dám nhận mình là người dân tộc.

- Để mỗi đứa trẻ có những hiểu biết về nét đẹp văn hóa của dân tộc như trang phục, phong tục tập quán, ngôn ngữ của dân tộc thì các hoạt động giáo dục về những nét đẹp đó phải được thực hiện thường xuyên.

pdf23 trang | Chia sẻ: LANG LANG | Ngày: 23/02/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số biện pháp dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 5-6 tuổi A1 trong trường mầm non Đồng Hưu, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ 
 TRƯỜNG MẦM NON ĐỒNG HƯU 
 ****** 
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP 
 THAM DỰ HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN 
 CHU KỲ 2024-2026 
Tên biện pháp: “Một số biện pháp dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc 
 Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 
 5-6 tuổi A1 trong trường mầm non Đồng Hưu” 
 Họ và tên: Phương Thị Tuyền 
 Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm 
 Đối tượng giảng dạy: Mẫu giáo 5-6 tuổi 
 Chức vụ: Giáo viên 
 Đồng Hưu, tháng 12 năm 2024 
 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ 
 - Thế giới ngày nay ngày càng phát triển hội nhập, mọi thứ đang thay đổi với 
tốc độ nhanh chóng, đẩy con người tiến lên phía trước. Tuy nhiên, có 1 điều chúng 
ta phải giữ gìn và phát huy, đó là bản sắc văn hóa dân tộc. Như một câu nói của 
một tiền bối đã được cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc đến “Văn hóa là bản 
sắc của dân tộc, văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất”. 
 - Nhưng thực tế hiện nay, đặc biệt là giới trẻ hay những em học sinh, họ thường 
hướng đến những thứ hiện đại hơn, tiên tiến hơn, hướng ngoại để bắt strend với thời 
đại đổi mới làm cho những giá trị truyền thống ngày càng mất dần đi. Trẻ không biết 
những giá trị văn hóa của dân tộc mình có ý nghĩa như thế nào, những nét văn hóa của 
dân tộc mình ra sao, có những trẻ còn không biết mình là người dân tộc, thậm trí trẻ 
còn ngại và xấu hổ không dám nhận mình là người dân tộc. 
 - Để mỗi đứa trẻ có những hiểu biết về nét đẹp văn hóa của dân tộc như trang 
phục, phong tục tập quán, ngôn ngữ của dân tộc thì các hoạt động giáo dục về 
những nét đẹp đó phải được thực hiện thường xuyên. 
 - Thực tế lớp tôi có nhiều trẻ là người dân tộc thiểu số như Tày, Nùng và trẻ 
dân tộc Nùng chiếm hơn 60% nhưng trẻ lại không biết nói tiếng dân tộc Nùng, 
không có khả năng nghe hiểu tiếng dân tộc Nùng. Thực hiện đề án và kế hoạch của 
cấp trên, tôi luôn có suy nghĩ trăn trở làm thế nào để phát huy tiếng dân tộc thiểu 
số, tăng cường tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ, để những giá trị văn hóa 
được giữ gìn và phát huy. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp 
dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục 
song ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi A1 trong trường mầm non Đồng Hưu” 
 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 
 1. Thực trạng công tác tổ chức dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng 
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 5-6 tuổi A1 trường 
mầm non Đồng Hưu 
 1.1. Ưu điểm 
 *Giáo viên : 
 - Tôi đã được đào tạo đạt trình độ Đại học, là một giáo viên có kinh nghiệm 
dạy lớp mẫu giáo, có tinh thần học hỏi, nhiệt tình trong giảng dạy, yêu nghề mến 
trẻ, nắm được tâm sinh lý của trẻ và những xu hướng phát triển của trẻ, luôn tìm 
tòi vận dụng các phương pháp, hình thức đổi mới vào các hoạt động nhằm thu hút 
trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động. 
 - Bản thân được trực tiếp tham dự các buổi tập huấn chuyên môn do Phòng 
GD&ĐT tổ chức, trong đó có chuyên đề nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho 
trẻ vùng dân tộc thiểu số, được học tập đúc rút kinh nghiệm qua thăm lớp dự giờ đồng 
nghiệp nên học hỏi được nhiều kinh nghiệm bổ ích để áp dụng vào đề tài. 
 - Bản thân là người dân tộc Nùng, có khả năng nói, nghe hiểu tiếng dân tộc Nùng. *Trẻ em: 
 - Trẻ học đúng độ tuổi, đến trường được sống trong môi trường giáo dục an 
toàn, thân thiện, lành mạnh, luôn yêu mến, gần gũi và tin tưởng cô giáo là yếu tố 
vô cùng thuận lợi cho việc giáo dục dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng. 
 - 22/26 trẻ là người dân tộc, trong đó có 16 trẻ là người dân tộc Nùng, có ông 
bà biết nói tiếng dân tộc nên đã từng được nghe tiếng dân tộc Nùng. 
 *Phụ huynh: 
 Phụ huynh có sự tin tưởng đối với công tác chăm sóc, nuôi dưỡng - giáo dục 
trẻ của nhà trường nên đã quan tâm và cho con đi học đúng độ tuổi và chấp hành 
tốt nội quy của trường, lớp...tạo mọi điều kiện tốt nhất cho nhà trường cũng như 
bản thân tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ. 
 *Nhà trường: 
 - Nhà trường luôn quan tâm giúp đỡ về chuyên môn xây dựng phương pháp 
đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục, tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn 
thành nhiệm vụ. 
 - Nhà trường là đơn vị thực hiện điểm đề án “tăng cường tiếng việt trên cơ sở 
tiếng mẹ đẻ cho trẻ”. Đầu tư xây dựng khu vui chơi “Bản sắc quê bé” với các trang 
phục, đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động giáo dục song ngữ cho trẻ. 
 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 
 1.2.1. Giáo viên 
 - Đã đầu tư về đồ dùng đồ chơi, trang phục cho trẻ hoạt động nhưng còn chưa 
được thường xuyên. 
 - Việc lựa chọn nội dung giáo dục, thiết kế hoạt động giáo dục dạy tiếng dân 
tộc cho trẻ còn lúng túng, chưa đổi mới về hình thức theo quan điểm lấy trẻ làm 
trung tâm. 
 - Công tác phối hợp, tuyên truyền phụ huynh học sinh giáo dục song ngữ cho 
trẻ thực hiện đạt hiệu quả chưa cao. 
 * Nguyên nhân: 
 - Do trang phục, đồ dùng cho trẻ tham gia hoạt động giáo dục song ngữ có 
chi phí cao. 
 - Chưa dành nhiều thời gian để nghiên cứu, thiết kế và tổ chức hoạt động 
giáo dục song ngữ cho trẻ. 
 - Phụ huynh đang trong độ tuổi đi làm công ty cả ngày nên để trẻ ở nhà cho 
ông bà chăm sóc dẫn đến việc trao đổi thông tin, nề nếp của trẻ còn hạn chế. 
 1.2.2.Trẻ em 
 - Trẻ chưa có vốn từ về tiếng dân tộc Nùng, chưa có khả năng nghe hiểu 
và nói tiếng dân tộc Nùng. 
 - Trẻ còn chưa hứng thú với hoạt động giáo dục dạy trẻ làm quen với tiếng 
dân tộc Nùng. * Nguyên nhân: 
 - Tuy là người dân tộc nhưng trẻ dùng tiếng Việt để giao tiếp là chủ yếu và 
không được ông bà bố mẹ dạy tiếng mẹ đẻ. 
 - Hoạt động giáo dục song ngữ chưa lôi cuốn trẻ. 
 1.2.3.Phụ huynh 
 - Phụ huynh chưa quan tâm và chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo 
dục cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc, không dành thời gian khuyến khích dạy 
trẻ nói tiếng dân tộc Nùng. 
 - Nhiều cha mẹ trẻ chỉ có khả năng nghe hiểu mà không biết nói tiếng dân tộc Nùng. 
 *Nguyên nhân 
 - Do nhận thức của các phụ huynh không đồng đều, học không coi trọng việc 
nói tiếng dân tộc và họ ngại, xấu hổ khi nói tiếng dân tộc. 
 - Một số phụ huynh đi làm ăn xa, sống trong môi trường không có người dân tộc 
nên họ thường sử dụng tiếng Việt để giao tiếp mà dần quên đi cách nói tiếng dân tộc. 
 1.2.4.Nhà trường 
 Việc cung cấp các tài liệu cụ thể hướng dẫn giáo viên thực hiện giáo dục 
song ngữ dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng còn gặp nhiều khó khăn. 
 *Nguyên nhân 
 - Do tiếng dân tộc Nùng không có chữ viết cụ thể. 
 - Tiếng dân tộc Nùng là tiếng mẹ đẻ mang tính địa phương, mỗi vùng miền có 
một cách phát âm khác nhau nên khó tìm ra một tài liệu cụ thể về việc hướng dẫn. 
 *Khảo sát ban đầu: 
 Vào đầu năm học Trước khi áp dụng các biện pháp, tôi tiến hành khảo sát 
với 26 trẻ trên một số nội dung. Kết quả khảo sát như sau: 
 Số lượng Trước khi áp dụng 
 Nội dung khảo sát 
 trẻ Số trẻ đạt Trẻ chưa đạt 
 Trẻ hứng thú, tự giác, tích cực tham gia 
 vào hoạt động giáo dục dạy trẻ làm quen 26 5 = 19% 21 = 81% 
 với tiếng dân tộc Nùng 
 Trẻ có khả năng nghe hiểu các từ đơn giản 
 26 2= 7,7% 22=92,3% 
 bằng tiếng dân tộc Nùng 
 Trẻ có vốn từ phong phú hơn (nói được 
 26 2=7,7% 22=92,3% 
 nhiều từ bằng tiếng dân tộc Nùng) 
 Khả năng phát âm chuẩn, chính xác các 
 26 1=3,8% 25= 96,2% 
 từu đơn giản bằng tiếng dân tộc Nùng 
 Từ những kết quả trên tôi đã đưa ra những: “Một số biện pháp dạy trẻ làm 
quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ 
cho trẻ 5 - 6 tuổi A1 trong trường mầm non Đồng Hưu” 2. Biện pháp tổ chức dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng góp phần 
nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi A1 trong trường 
mầm non Đồng Hưu 
 2.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường và kế hoạch giáo dục song ngữ 
 2.1.1. Nội dung biện pháp 
 - Xây dựng môi trường trong lớp mang bản sắc dân tộc 
 - Xây dựng khu vui chơi ngoài trời mang bản sắc dân tộc 
 - Xây dựng kế hoạch giáo dục chú trọng đến nội dung GD dạy trẻ làm quen với 
tiếng dân tộc Nùng. 
 2.1.2. Cách thức quá trình áp dụng biện pháp 
 a. Xây dựng môi trường trong lớp mang bản sắc dân tộc 
 Môi trường lớp học an toàn, thân thiện và thẩm mĩ sẽ tạo hứng thú cho trẻ 
và bản thân giáo viên góp phần lôi cuốn trẻ vào các hoạt động giáo dục song ngữ. 
Nhận thức được điều đó tôi đã trao đổi và cùng thống nhất với giáo viên trong lớp 
về kế hoạch, biện pháp trang trí sắp xếp tạo môi trường, các góc hoạt động trong 
lớp phù hợp với diện tích lớp cũng như các đồ dùng đồ chơi trong lớp phù hợp 
với tâm sinh lý trẻ, có tính thẩm mỹ và tích cực đối với trẻ: 
 - Tôi đã xây dựng góc “Bản sắc quê nọong” để đưa những nét văn hóa của 
dân tộc cho trẻ tìm hiểu như: trang phục dân tộc (quần, áo, khăn, túi), các dụng cụ 
âm nhạc của dân tộc (đàn tính, xóc nhạc, khèn), các hình ảnh, sách báo, tập san 
về các phong tục tập quán của dân tộc. 
 - Với quan điểm xây dựng trường mầm non “ lấy trẻ làm trung tâm” tôi tận 
dụng tối đa các sản phẩm của trẻ để trang trí lớp, trẻ được cùng cô cắt dán các sản 
phẩm để trang trí các góc. Từ những miếng vải, bìa cát tông, sách báo cũ, ống sữa, 
chai nhựa... làm ra các đồ dùng đồ chơi phù hợp với văn hóa và điều kiện thực tế 
của nhóm lớp: album các trang phục dân tộc, đàn, trống..., các buổi chơi trẻ được 
hoạt động với chính sản phẩm của mình đã làm nên trẻ rất thích thú. 
 Hình ảnh góc “Bản sắc quê nọong” tại lớp b.Xây dựng khu vui chơi ngoài trời mang bản sắc dân tộc 
 - Khu vui chơi ngoài trời không chỉ là nơi trẻ được hít thở không khí trong 
lành cùng thiên nhiên, được thỏa sức vui chơi theo ý thích mà còn là nơi trẻ học 
được bao điều hay lý thú bằng hình thức “Học bằng chơi, chơi mà học”. 
 - Tôi đã phối hợp với đồng nghiệp trang trí, sưu tầm và làm đồ dùng đồ chơi 
cho khu vui chơi ngoài trời “Bản sắc quê bé”, có không gian trưng bày sản phẩm 
của dân tộc (như trang phục dân tộc) , dụng cụ lao động của dân tộc (gùi, thúng, 
liềm, làn...), nét văn hóa của dân tộc (đàn tính, khèn, xóc nhạc...) gắn với phong 
tục của địa phương. Với những trang trí như vậy tôi đã lôi cuốn được sự hứng thú 
của trẻ tham gia vào các hoạt động giáo dục song ngữ. 
 Hình ảnh khu vui chơi ngoài trời “Bản sắc quê bé” 
 c. Xây dựng kế hoạch giáo dục chú trọng đến nội dung GD song ngữ cho trẻ 
 - Thực hiện kế hoạch số 196/KH-TMN ngày 26/9/2024 kế hoạch thực hiện 
mô hình giáo dục song ngữ “tăng cường tiếng việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ cho trẻ” 
năm học 2024-2025 của trường mầm non Đồng Hưu. 
 - Bản thân được giao nhiệm vụ lớp điểm thực hiện mô hình nên ngay từ đầu 
năm học khi xây dựng kế hoạch giáo dục tôi đã chú trọng đưa nội dung giáo dục 
dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng vào kế hoạch giáo dục phù hợp theo từng 
chủ đề. Đồng thời tôi tham mưu với nhà trường xây dựng kế hoạch chương trình 
cụ thể từng đề tài cho năm học với những nội dung phù hợp với độ tuổi và đặc 
điểm học sinh của lớp: Chủ đề 
 Thứ, ngày, tháng, năm Nội dung hoạt động 
 Thứ năm (03/10/2024) Làm quen số đếm từ 1-5 
 Bản thân Thứ năm (10/10/2024) Ôn tập các từ đã học 
 Thứ năm (17/10/2024) Làm quen từ: Tay, chân, mắt, miệng 
 Thứ năm (24/10/2024) Ôn tập các từ đã học 
 Thứ năm (31/10/2024) Làm quen từ: Bát, thìa, đũa, cốc 
 Gia đình 
 Thứ năm (7/11/2024) Ôn tập các từ đã học 
 Thứ năm (14/11/2024) Làm quen từ: Bố, mẹ, anh, em 
 Thứ năm (21/11/2024) Ôn tập các từ đã học 
 Nghề Thứ năm (28/11/2024) Làm quen từ: Cuốc, xẻng, cấy lúa 
 nghiệp 
 Thứ năm (05/12/2024) Ôn tập các từ đã học 
 Thứ năm (12/12/2024) Làm quen số đếm từ 6-10 
 Thứ năm (19/12/2024) Ôn tập các từ đã học 
 Thứ năm (26/12/2024) Làm quen từ: Con gà, con mèo, con chó. 
 Động vật 
 Thứ năm (9/1/2025) Làm quen từ: Con cá, con cua, con tôm 
 Thứ năm (16/01/2025) Ôn tập các từ đã học 
 Thứ năm (23/1/2025) LQ từ: Dọn nhà, bánh trưng, chúc mừng 
 Tết -mùa Thứ năm (06/2/2025) Ôn tập các từ đã học 
 xuân 
 Thứ năm (13/2/2025) LQ từ: Hoa đào, hoa mai, hoa cúc 
 Thứ năm (20/2/2025) Làm quen từ: Cây mít, cây chuối, cây nhãn 
 Thực vật Thứ năm (27/2/2025) Làm quen từ: Gạo, ngô, khoai, sắn 
 Thứ năm (6/3/2025) Ôn tập các từ đã học 
 Nước và Thứ năm (13/3/2025) Làm quen từ: Nắng, mưa, nóng, lạnh 
 HTTN Thứ năm (20/3/2025) Làm quen từ: Mũ, quần, áo, đôi dép 
 Thứ năm (27/3/2025) Ôn tập các từ đã học 
 Thứ năm (3/4/2025) Làm quen từ: Xe, đi đường, ngồi. 
 Thứ năm (10/4/2025) Ôn tập các từ đã học 
Giao thông 
 Thứ năm (17/4/2025) Làm quen từ: Lấy, cho, hộ, giúp 
 Thứ năm (24/4/2025) Ôn tập các từ đã học 
 Thứ năm (8/5/2025) Làm quen từ: Thôn, nhà, núi, đồi 
 QH-ĐN- Thứ năm (15/5/2025) Làm quen từ: Mật ong, Quả vải, quả mít 
 BH-TTH 
 Thứ năm (22/5/2025) Ôn tập các từ đã học 
 Kế hoạch chương trình giáo dục dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp 
 Kết quả từ việc xây dựng môi trường mang bản sắc dân tộc tôi đã tạo cho trẻ 
một môi trường hoạt động phong phú, hấp dẫn, thu hút trẻ. Giúp trẻ tích cực, tự 
giác tham gia vào các hoạt động giáo dục song ngữ. 
 Khảo sát 26/26 học sinh của lớp 5-6 tuổi A1 
 Trước khi áp 
 Số Sau khi áp dụng 
 dụng Ghi 
 lượng 
 Nội dung khảo sát Số trẻ Số trẻ chú 
 trẻ Tỉ lệ% Tỉ lệ% 
 đạt đạt 
 Trẻ hứng thú, tự giác, tích 
 cực tham gia vào hoạt động Tăng 
 26 5 19% 22 86% 
 giáo dục dạy trẻ làm quen 67% 
 với tiếng dân tộc Nùng 
 (Kết quả được khảo sát tại thời điểm tháng 12/2024) 
 2.2. Biện pháp 2: Dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng cho trẻ mẫu 
giáo 5 - 6 tuổi lớp A1 vào các hoạt động hàng ngày 
 2.2.1. Nội dung biện pháp 
 - Tổ chức hoạt động học dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng 
 - Lồng ghép trong các hoạt động hàng ngày 
 2.2.2. Cách thức quá trình áp dụng biện pháp 
 a. Tổ chức hoạt động học: 
 * Tổ chức hoạt động học dạy tiếng dân tộc Nùng 
 - Hoạt động học là hoạt động được tổ chức có sự định hướng và hướng dẫn 
trực tiếp của cô giáo. Nội dung dạy được tổ chức có hệ thống theo sát mục đích 
yêu cầu, kế hoạch đã được hoạch định trong giáo án nhằm cung cấp kiến thức, kỹ 
năng, thái độ cho trẻ giúp trẻ hiểu để trẻ cảm nhận đầy đủ và sâu sắc nội dung bài 
học liên quan đến tiếng dân tộc Nùng. 
 -Ví dụ: Ở chu đề “Gia đình” tôi thực hiện đề tài dạy trẻ làm quen các từ 
“Bố, mẹ, anh, em” 
 *Mục đích- yêu cầu : 
 * Kiến thức 
 - Cung cấp kiến thức 
 + Trẻ phân biệt và nói được các từ “Pá - Bố”, “Mế - Mẹ”; “Cố - Anh”; “Noọng - 
Em” bằng tiếng dân tộc Nùng, tiếng Việt. + Trẻ biết cách chơi các trò chơi “Ai nhanh nhất”, “Về đúng nhà”, “Ai thông minh”. 
 - Củng cố kiến thức 
 + Củng cố cho trẻ một số từ đã học bằng tiếng dân tộc Nùng như đếm từ 1 
đến 4 (Nơng, flong, flam, fli). 
 +Củng cố cho trẻ biết gia đình nhỏ, gia đình lớn 
 + Trẻ biết hát 1 số bài hát trong chủ đề. 
 Kỹ năng 
 - Cung cấp kỹ năng 
 + Phát triển kỹ năng nói đủ câu, rõ ràng, mạch lạc các từ: “Pá - Bố”, “Mế - 
Mẹ”; “Cố - Anh”; “Noọng - Em” bằng tiếng dân tộc Nùng kết hợp tiếng Việt. 
 - Củng cố kỹ năng 
 + Củng cố cho trẻ kỹ năng nhanh nhẹn, khéo léo, chú ý, ghi nhớ có chủ định . 
 Thái độ 
 + Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động, chơi đoàn kết, yêu thích hoạt động 
làm quen với tiếng dân tộc Nùng. 
 + Giáo dục trẻ yêu thương những người thân trong gia đình, giữ gìn và bảo 
tồn bản sắc văn hóa dân tộc. 
 *CHUẨN BỊ 
 Đồ dùng của cô 
 - Giáo án đầy đủ 
 - Tivi, các thiết bị điện tử, que chỉ 
 - Powerpoint về các tành viên trong gia đình 
 - Slide ảnh về các từ: Bố, mẹ, anh, em. 
 - Nhạc 1 số bài hát trong chủ đề. 
 - 4 tranh về bố, mẹ, anh, em . 
 Đồ dùng của trẻ 
 - Trang phục dân tộc 
 - Lô tô về bố, mẹ, anh, em. 
 - Ngôi nhà chơi trò chơi 
 - Thẻ số 
 - Nhạc bài hát “Nhà của tôi” chơi trò chơi 
 - Vị trí giờ học, đủ chỗ ngồi, không gian cho trẻ tham gia các hoạt động. 
 - Trang phục gọn gàng, phù hợp. 
 *CÁCH TIẾN HÀNH 
 Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ 
1. Hoạt động 1. Gây hứng thú (1-2 phút) 
- Giới thiệu chương trình “ Ngày hội tiếng 
dân tộc Nùng" chủ đề Gia đình gồm 3 phần. 
+ Phần 1: Tài năng của bé - Trẻ hưởng ứng cùng cô. 
+ Phần 2: Tìm hiểu kiến thức 
+ Phần 3: Trò chơi vui nhộn 
- Cho trẻ chào các cô bằng tiếng dân tộc Nùng - Cả lớp : "Kí lan chao cô giao" 
2. Hoạt động 2. Bài mới (28-30 phút) 
2.1. Phần 1: Tài năng của bé: Ôn lại các 
từ đã học 
- Phần “Tài năng của bé” các con sẽ được 
xem màn trình diễn thời trang của 4 siêu 
mẫu nhí lớp 5-6 tuổi A1 với những bộ trang 
phục dân tộc rất đẹp. Xin mời các siêu mẫu. - 4 bạn đi vào ra mắt 
- Xin mời siêu mẫu số 01 - 1 trẻ đi vào trình diễn sau đó trẻ 
 giới thiệu về bản thân mình (sử 
 dụng tiếng dân tộc Nùng đã học) 
- Bạn Nhã Uyên mặc trên mình bộ quần áo 
của dân tộc nào ? - Trang phục dân tộc Nùng ạ 
 - Trẻ lên trình diễn và giới thiệu 
 của bạn Thu Trang. 
- Chúng mình thấy các siêu mẫu nhí hôm 
nay như thế nào ? - Rất xinh đẹp ạ 
-> Cô cho trẻ xem video về các thành viên 
gia đình bạn Bi. - Trẻ xem video 
- Gia đình của Bi có mấy người? - Gia đình bạn Bi có 4 người ạ 
- Cho trẻ đếm bằng tiếng dân tộc Nùng. - Nơng, flong flam, flis. 
- Gia đình bạn Bi được gọi là gia đình gì? - Gia đình nhỏ 
- Gia đình bạn nào là gia đình nhỏ giống gia 
đình của bạn Bi? - Trẻ giơ tay 
- Những bạn còn lại gia đình có những ai? - Trẻ kể và trả lời câu hỏi 
Được gọi là gia đình gì? 
=> GĐ trẻ luôn yêu thương, quan tâm người - Trẻ lắng nghe 
thân trong gia đình. 
2.2. Phần thứ 2. “Tìm hiểu kiến thức”- 
Dạy từ mới: “Pá - Bố”, “Mế - Mẹ”; “Cố - 
Anh ”; “Nọong - Em” - Cho trẻ lấy rổ đồ dùng - Trẻ lấy rổ đồ dùng 
- Trong rổ có hình ảnh của ai ? - H/a của bố, mẹ, anh và em ạ 
+ Làm quen từ. “Pá - Bố” 
 - Cả lớp " Trốn cô " - Trẻ nhắm mắt 
- Cô đâu cô đâu - Trẻ mơ mắt 
- Cô chiếu hình ảnh Bố cho trẻ quan sát, cô 
có hình ảnh ai đây ? - Hình ảnh của bố ạ 
- Bố trong tiếng dân tộc nùng nói là " Pá " 
các con lắng nghe cô đọc nhé 
- Cô phát âm từ "Pá " 3 lần - Trẻ lắng nghe cô đọc 
-> Pá trong tiếng việt nghĩa là "Bố" 
- Cô cho cả lớp nói - Cả lớp nói " Pá " 
-"Pá " nghĩa trong tiếng việt là gì ? -Là "Bố " ạ. 
- Cô cho tổ, nhóm, cá nhân thực hiện (Cô và - Từng tổ, nhóm, cá nhân trẻ 
các bạn nhận xét) thực hiện. 
- Pá trong tiếng việt là gì ? - Là Bố ạ 
- Cô củng cố lại : Cô và các con vừa được - Trẻ lắng nghe. 
làm quen với từ " Pá " bằng tiếng dân tộc 
Nùng nghĩa Tiếng việt là ‘Bố’ 
+ Làm quen từ. “Mế - Mẹ”, “Cố - anh”, - Trẻ thực hiện theo yêu cầu của 
“Noọng - em”: Cô thực hiện tương tự như cô 
làm quen với từ “Pá-bố” 
=> Các con được làm quen với những từ gì - Pá, Mế, Cố, Nọong 
? Trong tiếng việt nghĩa là gì? - Bố, Mẹ, Anh, Em 
-> GD trẻ bảo tồn và gìn giữ tiếng dân tộc 
này nhé. - Trẻ lắng nghe 
2.3. Phần thứ 3. Củng cố "Trò chơi vui nhộn" 
a.Trò chơi 1: Ai nhanh nhất 
- Cách chơi: Chúng mình sẽ chọn hình ảnh 
theo yêu cầu của cô, giơ lên và nói bằng - Trẻ lắng nghe 
tiếng dân tộc Nùng. 
- Luật chơi: Bạn nào làm đúng theo yêu cầu 
sẽ là người chiến thắng, bạn nào làm sai sẽ 
phải tìm và đọc lại. 
- Cô tổ chức cho trẻ chơi trò chơi. - Trẻ chơi trò chơi 
b. Trò chơi 2: Về đúng nhà 
- Cách chơi. Các con vừa đi thành vòng tròn - Trẻ lắng nghe 
vừa hát. Khi có hiệu lệnh "về đúng nhà" thì 
các con sẽ nhanh chân về ngôi nhà có hình ảnh giống với hình ảnh cầm trên tay và nói tên hình 
 ảnh bằng tiếng dân tộc Nùng 
 - Luật chơi : Bạn nào về nhầm sẽ phải nhảy 
 lò cò về đúng nhà và nói lại tiếng dân tộc 
 Nùng cho đúng. 
 - Tổ chức cho trẻ chơi - Trẻ chơi trò chơi 
 c.Trò chơi 3 : Ai thông minh 
 - Cách chơi : Trên màn hình cô có các câu - Trẻ lắng nghe 
 hỏi và các đáp án. Nhiệm vụ của các con là 
 lắng nghe và chọn đáp án đúng giơ lên và 
 đọc đúng đáp án bằng tiếng dân tộc Nùng. 
 - Luật chơi. Mỗi 1 lần chơi chỉ được chọn 
 1 đáp án đúng, nếu sai phải chọn lại đáp án 
 đúng và nói lại bằng tiếng dân tộc Nùng 
 - Tổ chức cho trẻ chơi - Trẻ chơi trò chơi sôi nổi 
 d. Trò chơi 4 : Quà tặng âm nhạc 
 - Vừa rồi cô thấy các con học rất ngoan và 
 chơi trò chơi rất xuất sắc ngay bây giờ cô 
 mời các con cùng thưởng thức một lần điệu 
 hát then, một làn điệu của dân tộc Tày, Nùng 
 qua bài hát " Lập xuân". Cô mời 4 bạn lớp - 4 trẻ lên lấy dụng cụ âm nhạc 
 mình sẽ lên hát và phụ họa cùng cô. hát và phụ họa cùng cô. 
 3. Hoạt động 3: Kết thúc(1-2 phút) 
 - Cho trẻ vđ theo bản nhạc " Vũ điệu đoàn kết" - Trẻ vận động 
 - Vũ điệu đoàn kết đã khép lại chương trình 
 Ngày hội tiếng dân tộc nùng. Xin chào và 
 hẹn gặp lại. Thân ái, chao pỉ nọong ! -Trẻ chào cô. 
Hình ảnh trẻ trong hđ dạy tiếng dân tộc Nùng “ Làm quen từ Bố, mẹ, anh, em” *Lồng ghép trong hoạt động học khác: Ngoài ra, việc dạy trẻ làm quen với 
tiếng dân tộc Nùng còn được lồng ghép trong các hoạt động học khác như làm 
quen với toán, khám phá, tạo hình, giáo dục âm nhạc..v..v. 
 Việc thay đổi hình thức giáo dục trong các hoạt động học luôn thu hút trẻ, 
giúp trẻ hứng thú tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng và còn lồng ghép các nội 
dung giáo dục song ngữ một cách dễ dàng hơn. 
 Ví dụ: Trong hoạt động làm quen với toán “Đếm, nhận biết nhóm đối tượng 
có số lượng 6, nhận biết số 6”, tôi lồng ghép cho trẻ đếm bằng tiếng dân tộc Nùng 
đan xem với đếm bằng tiếng Việt trong các phần của tiết học từ phần ôn tập, đến 
phần đếm và nhận biết số, đến phần trò chơi luyện tập trẻ đếm các đối tượng bằng 
tiếng dân tộc Nùng (nơng, flong, flam, fli, hả, húc) và trẻ đã rất hứng thú thực 
hiện. Từ đó tôi không chỉ dạy trẻ biết đếm, nhận biết số 6 mà còn ôn lại số đếm 
bằng tiếng dân tộc Nùng cho trẻ. 
 Hình ảnh trẻ tham gia HĐ làm quen với toán 
 Hay trong hoạt động giáo dục âm nhạc “Biểu diễn cuối chủ đề Gia đình”, tôi 
lồng ghép các từ bằng tiếng dân tộc Nùng qua các bài hát trẻ hát. Trẻ hát bài “Cả 
nhà đều yêu”, tôi hỏi trẻ “Trong bài hát nhắc đến ai?” Trẻ trả lời tôi yêu cầu trẻ 
nói bằng tiếng dân tộc Nùng (Mế, pá, noọng, cô giao...). Đồng thời, trong phần 
nghe hát, tôi kết hợp hát cho trẻ nghe và cảm nhận về làn điệu hát then của dân 
tộc Nùng, khi trò chuyện với trẻ về bài hát, tôi giới thiệu về trang phục, các phong 
tục tập quán cuả dân tộc. Qua đó cho trẻ biết những nét văn hóa đặc sắc của dân 
tộc, giáo dục trẻ giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đó. 
 Hình ảnh trẻ tham gia HĐ âm nhạc 
 b. Lồng ghép trong các hoạt động hàng ngày 
 Bản thân tôi tăng cường giao tiếp với trẻ bằng tiếng dân tộc Nùng và tiếng 
Việt thông qua các hoạt động để tạo cơ hội giao tiếp cho trẻ mọi lúc mọi nơi, phát 
triển tối đa tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ. Khuyến khích trẻ sử dụng 
tiếng dân tộc Nùng khi tham gia các hoạt động: 
 * Hoạt động đón trả trẻ và trò chuyện 
 Trong hoạt động đón trả trẻ và trò chuyện tôi sẽ cho trẻ ôn lại các từ mà trẻ 
đã biết và mở rộng thêm một số từ đơn giản khác, hướng dẫn trẻ phát âm một cách 
chính xác nhất các từ. Từ việc thường xuyên được nhắc lại bằng tiếng dân tộc 
Nùng và tiếng Việt sẽ giúp trẻ khắc sâu hơn và nhớ lâu hơn các từ. Ngoài ra, khi 
đặt câu hỏi để hỏi trẻ tôi sẽ sử dụng tiếng dân tộc Nùng, sau đó nói lại bằng tiếng 
Việt để hỏi trẻ. 
 - Ví dụ: Trong chủ đề “Gia đình”, với kế hoạch đã xây dựng là trẻ biết từ chỉ 
các thành viên trong gia đình thì khi trẻ đến lớp tôi sẽ hỏi trẻ bằng tiếng dân tộc 
Nùng “Vằn nảy cần nầy tái lục pây toọc flư?” và dịch sang tiếng Việt “Hôm nay 
ai đưa con đi học?” để trẻ hiểu. Khi trẻ trả lời tôi sẽ yêu cầu trẻ nói bằng tiếng dân 
tộc Nùng để trẻ được củng cố lại các từ cô đã dạy như “Bố, mẹ, anh, em”- “Pá, 
mế, cố, noọng” và mở rộng thêm các từ “ông, bà, chị, bác...”- “Cống, pò, chế, 
giế...”. Hay trong hoạt động trò chuyện tôi cho trẻ giới thiệu về các thành viên 
trong gia đình mình và cho trẻ nhắc lại các thành viên bằng tiếng dân tộc Nùng. 
Nhờ việc được giao tiếp nói bằng tiếng dân tộc thường xuyên như vậy mà trẻ sẽ 
nhớ nhanh và nhớ lâu hơn. Từ đó không chỉ giúp tăng vốn từ cho trẻ mà còn giúp 
trẻ nói tiếng dân tộc một cách chính xác hơn. 
 * Hoạt động ngoài trời 
 Trẻ được thực hành, trải nghiệm, thăm quan trong các hoạt động sẽ tạo điều 
kiện cho trẻ được luyện nói nhiều nhằm phát triển tiếng mẹ đẻ của trẻ. Mà hoạt 
động ngoài trời là hoạt động mà trẻ được thăm quan, trải nghiệm, thực hành 
thường xuyên nhất. Chính vì vậy tôi thường lồng ghép cho trẻ sử dụng tiếng dân 
tộc Nùng trong hoạt động này. Thông qua các hoạt động quan sát những sự vật 
hiện tượng như cây xanh, cây ăn quả, cây hoa, vườn rau, thời tiết, đồ chơi ngoài 
trời... tôi giới thiệu các từ bằng tiếng dân tộc Nùng, từ việc được tư duy trực quan 
kết hợp với sử dụng tiếng dân tộc Nùng như vậy sẽ giúp trẻ nhớ nhanh hơn. 
 - Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát cây đu đủ, tôi phát âm từ cây đu đủ bằng tiếng 
dân tộc Nùng (co pục flung) cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại. Và vào các hoạt 
động sau khi nhìn thấy cây đu đủ, tôi sẽ cho trẻ nhắc lại bằng tiếng dân tộc Nùng 
(co pục flung). Cứ như vậy trẻ sẽ vừa được trực quan vừa được nói tiếng dân tộc 
giúp trẻ nhớ lâu hơn. 
 Đặc biệt tôi thường tổ chức cho trẻ hoạt động tại khu vui chơi ngoài trời 
“Bản sắc quê bé”, nơi trẻ được hoạt động với các đồ dùng dụng cụ, sản phẩm, 
trang phục hay nghe các giai điệu hát then của người dân tộc, của người dân địa 
phương, tìm hiểu những nét văn hóa của dân tộc và ôn lại các từ bằng tiếng dân 
tộc Nùng. Từ đó, hình thành cho trẻ có hứng thú với tiếng dân tộc Nùng, thích 
được giao tiếp bằng tiếng dân tộc, giúp vốn từ bằng tiếng dân tộc Nùng của trẻ 
được tăng lên. 
 * Hoạt động vui chơi 
 Trong hoạt động vui chơi, bên cạnh các góc chơi chính tôi cho trẻ tham gia 
chơi ở góc “Bản sắc quê Noọng”, tôi hướng dẫn trẻ cách sử dụng các dụng cụ, các 
trang phục dân tộc hay xem tranh ảnh về các hoạt động của dân tộc qua tạp chí, 
sách báo. Cô sẽ là người thúc đẩy để trẻ ôn lại các từ bằng tiếng dân tộc Nùng và 
giao lưu, liên kết giữa các nhóm để trẻ ở các nhóm khác cũng được tìm hiểu về 
các nét văn hóa của dân tộc. 
 * Hoạt động ăn 
 Hoạt động ăn là một hoạt động đặc trưng và không thể thiếu ở trường mầm 
non, được diễn ra 2 lần/ 1 ngày gồm hoạt động ăn trữa (bữa chính) và hoạt động 
ăn chiều (bữa phụ). Chính vì vậy việc lồng ghép cho trẻ làm quen tiếng dân tộc 
Nùng trong hoạt động này sẽ rất hiệu quả. Trong hoạt động này tôi sẽ cho trẻ nói 
các từ như: tên các món ăn đơn giản (cơm, canh, rau, thịt, cá, trứng) bằng tiếng 
dân tộc Nùng ( khảu, thang, pắc, nự, pa, sáy...), tên các đồ dùng ăn uống (bát - 
thủi, đũa - thú) hay là cụm từ “ăn cơm - kin khảu”...v..v. bằng tiếng dân tộc Nùng 
và tiếng Việt. Việc kết hợp vừa nói tiếng Việt và tiếng dân tộc Nùng giúp trẻ hiểu 
 * Hoạt động ngủ Trong hoạt động ngủ tôi cho trẻ sử dựng tiếng dân tộc Nùng để chỉ các đồ 
dùng như: “giường - flàng”, “chăn - phà” , “chiếu - phục” hay cụm từ “đi ngủ - 
pây nòn”, “dậy - tấn”. Việc trẻ được nhắc lại nhiều lần kết hợp với các đồ dùng 
như vậy sẽ giúp trẻ nhớ lâu hơn. 
 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp 
 - Kết quả sau khi giáo dục song ngữ cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng ở mọi 
lúc mọi nơi giúp trẻ hứng thú và tích cực nói tiếng dân tộc Nùng nhiều hơn. Trẻ có khả 
năng nghe hiểu các từ đơn giản bằng tiếng dân tộc Nùng,vốn từ tiếng dân tộc Nùng phong 
phú hơn. Khả năng phát âm tiếng dân tộc cũng chuẩn và chính xác hơn. 
 Khảo sát 26/26 trẻ của lớp 5-6 tuổi A1 
 Trước khi áp 
 Số Sau khi áp dụng 
 dụng Ghi 
 lượng 
 Nội dung khảo sát Số trẻ Số trẻ chú 
 trẻ Tỉ lệ% Tỉ lệ% 
 đạt đạt 
 Trẻ có khả năng nghe hiểu Tăng 
 các từ đơn giản bằng tiếng 26 2 7,7% 19 73% 65,3% 
 dân tộc Nùng 
 Trẻ có vốn từ phong phú Tăng 
 hơn (nói được nhiều từ bằng 26 2 7,7% 19 73% 65,3% 
 tiếng dân tộc Nùng) 
 Khả năng phát âm chuẩn, Tăng 
 chính xác các từ đơn giản 26 1 3,8% 18 69% 65,2% 
 bằng tiếng dân tộc Nùng 
 (Kết quả được khảo sát tại thời điểm tháng 12/2024) 
 2.3. Biện pháp 3: Phối hợp với phụ huynh cùng tham gia dạy trẻ làm 
quen với tiếng dân tộc Nùng 
 2.3.1. Nội dung biện pháp 
 Đa dạng hình thức tuyên truyền phối hợp với phụ huynh để góp phần nâng 
cao hiệu quả dạy trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng cho trẻ lớp 5-6 tuổi A1. 
 - 2.3.2. Cách thức quá trình áp dụng biện pháp 
 Có thể nói cha mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ, đặc biệt là 
ngôn ngữ. Chính vì thế mà chúng ta có những vùng miền với cách nói và phát âm 
khác nhau. Trên thực tế, cha mẹ sử dụng ngôn ngữ nào thì con cái của họ cũng sẽ 
sử dụng ngôn ngữ đó. Và để trẻ có thể nói tiếng dân tộc Nùng được thì cha mẹ và 
những người thân của trẻ cũng phải biết và sử dụng tiếng dân tộc trong sinh hoạt 
hàng ngày của gia đình. Biết được tầm quan trọng của các bậc phụ huynh như vậy nên để nâng cao 
chất lượng giáo dục trong hoạt động giáo dục song ngữ dạy tiếng dân tộc Nùng 
cho trẻ tôi luôn tích cực tuyên truyền cha mẹ trẻ cùng tham gia. Tôi đa dạng các 
hình thức tuyên truyền để việc tuyên truyền đạt hiệu quả cao hơn. 
 - Đầu tiên, vào đầu năm học tôi tuyên truyền phụ huynh ủng hộ các nguyên 
vật liệu để trang trí lớp và ngày công lao động để cải tạo lại môi trường của nhà 
trường nói chung và của lớp 5 tuổi A1 nói riêng. Đặc biệt, với kế hoạch xây dựng 
góc “Bản sắc quê Noọng” tôi đã tuyên truyền phụ huynh ủng hộ những dụng cụ, 
trang phục dân tộc vì những dụng cụ này rất khó tìm. Và phụ huynh lớp tôi đã 
nhiệt tình hưởng ứng, không những ủng hộ quả xóc nhạc, trang phục dân tộc mà 
còn hỗ trợ tôi trong việc làm đồ dùng để trang trí góc. 
 Phụ huynh ủng hộ nguyên vật liệu, đồ dùng trang trí lớp 
 - Tôi tuyên truyền trực tiếp trong các giờ đón trả trẻ: Nói cho họ biết tầm quan 
trọng của tiếng mẹ đẻ trong việc giữ gìn và phát huy những nét đẹp văn hóa của dân tộc. 
 - Tuyên tuyền qua bảng tuyên truyền: Tôi đưa các hình ảnh, những bài viết 
về việc giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa lên bảng tuyên truyền để phụ huynh 
có những hiểu biết rõ hơn về tiếng dân tộc. 
 - Tuyên truyền qua nhóm zalo, trang wedsite, trang facebook của nhà trường: 
Do phụ huynh trẻ đa số đi làm ăn xa, làm công ty nên không có thời gia đưa đón 
trẻ nên việc tuyên truyền qua nhóm zalo là một hình thức tuyên truyền đạt hiệu 
quả cao nhất, đặc biệt với thời đại 4.0 này, tất cả các bậc phụ huynh đều sử dụng 
điện thoại thông minh, có tài khoản zalo, facebook. Việc kết nối với các bậc phụ 
huynh cũng dễ dàng hơn. Tôi đưa các hình ảnh, video trẻ tham gia hoạt động làm 
quen với tiếng dân tộc Nùng trên lớp lên nhóm zalo của lớp, trang wedsite, trang facebook của nhà trường để phụ huynh thấy được sự thích thú và tầm quan trọng 
của việc cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng. Ở nhóm zalo, tôi ghi âm cách 
phát âm các từ đã học bằng tiếng dân tộc Nùng, gửi lên nhóm lớp để phụ huynh 
cùng phối hợp ôn cho trẻ nói khi ở nhà và phụ huynh rất tích cực tham gia. 
 Thường xuyên trao đổi với phụ huynh trên nhóm zalo 
 Hay các tiết dạy cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng được đăng tải trên 
trang wedsite, trang facebook của nhà trường để các bậc phụ huynh thấy được tầm 
quan trọng của việc cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng, từ đó tích cực cho 
trẻ làm quen với tiếng dân tộc . 
 - Tuyên truyền phụ huynh phối hợp cùng tham gia hoạt động giáo dục dạy 
tiếng dân tộc trên lớp: Đa số các bậc phụ huynh lớp tôi là người dân tộc, đều biết 
tiếng dân tộc, đặc biệt là các ông bà những người lớn tuổi nói rất chính xác. Nhưng 
do môi trường sống người dân thường giao tiếp bằng tiếng Việt, tiếng phổ thông 
nên việc sử dụng ngôn ngữ là tiếng dân tộc không thường xuyên được sử dụng, 
có nhiều người chỉ nghe hiểu mà không nói được tiếng dân tộc của mình. Để khơi 
dậy việc sử dụng tiếng mẹ đẻ đang dần bị quên lãng, tôi đã đẩy mạnh công tác 
tuyên truyền, khuyên khích phụ huynh tích cực sử dụng tiếng dân tộc trong sinh 
hoạt hàng ngày. Đồng thời phối hợp cùng cô giáo trong hoạt động giáo dục trẻ 
trên lớp. Và tôi thấy rằng, với sự tham gia của phụ huynh là người dân tộc Nùng, 
biết về các phong tục tập quán của đồng bào, biết nói chính xác ngôn ngữ dân tộc 
thì tiết dạy đã rất thu hút trẻ, trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động và việc tiếp 
nhận kiến thức cũng hiệu quả hơn. 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_day_tre_lam_quen_voi_tieng_dan_toc_nung_gop.pdf