Một số biện pháp nâng cao chất lượng khi tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi
Giao dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,làm nền tảng ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Chính trẻ em hôm nay sẽ là những nhân tố quan trọng , quyết đinh đến sự phồn thịnh và văn minh của một quốc gia sau này. Do đó, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng .xã hội hiện đại luôn vận động và phát triển không ngừng, song song với sự phát triển đó cuộc sống con người luôn nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp,thách thức…đòi hỏi mỗi con người phải có năng lực để ứng phó , để vượt qua. Nếu không có năng lực , kinh nghiệm và hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp rủi ro. Nhằm giúp mỗi cá có thể quyết định ,hành động và ứng sử một cách hiệu quả , thích nghi được với hoàn cảnh , tránh được những hậu quả xấu , thì việc tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm …Cho mỗi người là vô cùng quan trọng và cấp thiết .Ở việt nam những năm gần đây việc GDKNS đã đưa vào mọi cấp học trong đó có mầm non . tuy nhiên được đông đảo mọi người quan tâm nhất vẫn là việc GDKNS cho trẻ bắt đầu ở giai đoan 7-8 năm đầu tiên của cuộc đời con người . Trẻ em như búp trên cành biết ăn ,biết ngủ , biết học hành là ngoan bởi vậy ,các em luôn nhận được sự quan tâm , chăm sóc ,bảo vệ chu đáo của bố mẹ , ông bà và mọi người xung quanh mà ít khi được cọ sát với thực tế . Trong khi đó í tai biết rằng chính sự bao bọc ,che chở, quan tâm quá mức đó đã làm cho trẻ thiếu hiểu biết về thực tế của cuộc sống ,thiếu những kĩ năng sống cơ bản, không biết tự bảo vệ mình , chăm sóc bản thân , từ những việc đơn giản như: Chải tóc , đánh răng, mặc quần áo trẻ cũng hoàn toàn ỉ lại và phụ thuộc vào bố mẹ ,cô giáo …gặp những tình huống hết sức đơn giản trẻ cũng không tự mình xử lý được . GDKNS giúp trẻ được trang bị kiến thức , kĩ năng, kinh nghiệm,để không bị bỡ ngỡ khi gia nhập vào xã hội và từ đó giúp trẻ sống thân thiện với mọi người , đồng thời trẻ có khẳ năng xử lý các tình huống ,hoàn cảnh bát cập trong cuộc sống , tạo điều kiện giúp trẻ phát triển cân đối hài hòa hơn.
Kỹ năng sống là một yếu tố quan trọng điều khiển ý thức và hành vi của con người. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non sẽ mang lại cho các cháu rất nhiều lợi ích về mặt sức khỏe, giáo dục và cả văn hóa xã hội, giúp các cháu sớm có một cơ thể cường tráng, lành mạnh về trí tuệ cũng như thể lực, sớm có ý thức và khả năng thích nghi với cuộc sống, làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như cho cộng đồng.
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là việc rất quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách cho trẻ đến tuổi trưởng thành. Có thể giáo dục kỹ năng sống từ tuổi Mầm non, bởi vì ở lứa tuổi này đã hình thành những hành vi cá nhân, tính cách và nhân cách. Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hoà bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội
MỤC LỤC STT Nội dung Trang PHẦN I:PHẦN MỞ ĐẦU 2 1 Lý do chọn đề tài. 2 2 Mục đích nghiên cứu của đề tài. 3 3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 4 4 Nhiệm vụ nghiên cứu. 4 5 Phương pháp nghiên cứu. 4 6 Những đóng góp cảu đề tài 5 7 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu 5 PHẦN II: NỘI DUNG 6 CHƯƠNG I: 6 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. I Cơ sở lý luận: 6 II Cơ sở thực tiễn: 7 CHƯƠNG II: 7 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. 1 Thuận lợi 7 2 Khó khăn 8 3 Kết quả thực trạng 8 CHƯƠNG III: 9 NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ. 1 Những giải pháp 9 a Giải pháp 1: Tự học tự bồi dưỡng trao dồi kiến thức cho bản thân, 9 tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ b Giải pháp 2:Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ trong cuộc 11 c Giải pháp 3:Lồng ghép kỹ năng sống thông qua hoạt động học tập .. 14 d Giải Pháp 4: Giáo dục trẻ kỹ năng sống thông qua lao động tự phục 17 vụ và các hoạt động khác trong ngày. đ Giải pháp 5: Sử dụng tình huống có vấn đề nhằm hình thành cho bé 23 một số kỹ năng sống cần thiết, kỹ năng phòng tránh khi bị bắt cóc. e Giải pháp 6: Hình thành kỹ năng sống cho trẻ qua việc tổ chức các 26 hoạt động ngày hội ngày lễ, các hội thi trong năm học f Giải pháp 7: Nêu gương trong việc giáo dục kỹ năng sống 28 2 Kết quả thực hiện 29 CHƯƠNG IV: MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ SUẤT 29 1 Đối với UBND xã 29 2 Đối với phòng GD&ĐT 29 PHẦN III: KẾT LUẬN CHUNG 30 Tài liệu tham khảo 32 [1] PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Giao dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,làm nền tảng ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Chính trẻ em hôm nay sẽ là những nhân tố quan trọng , quyết đinh đến sự phồn thịnh và văn minh của một quốc gia sau này . Do đó , việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng .xã hội hiện đại luôn vận động và phát triển không ngừng , song song với sự phát triển đó cuộc sống con người luôn nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp,thách thức đòi hỏi mỗi con người phải có năng lực để ứng phó , để vượt qua. Nếu không có năng lực , kinh nghiệm và hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp rủi ro. Nhằm giúp mỗi cá có thể quyết định ,hành động và ứng sử một cách hiệu quả , thích nghi được với hoàn cảnh , tránh được những hậu quả xấu , thì việc tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao kiến thức ,kĩ năng , kinh nghiệm Cho mỗi người là vô cùng quan trọng và cấp thiết .Ở việt nam những năm gần đây việc GDKNS đã đưa vào mọi cấp học trong đó có mầm non . tuy nhiên được đông đảo mọi người quan tâm nhất vẫn là việc GDKNS cho trẻ bắt đầu ở giai đoan 7-8 năm đầu tiên của cuộc đời con người . Trẻ em như búp trên cành biết ăn ,biết ngủ , biết học hành là ngoan bởi vậy ,các em luôn nhận được sự quan tâm , chăm sóc ,bảo vệ chu đáo của bố mẹ , ông bà và mọi người xung quanh mà ít khi được cọ sát với thực tế . Trong khi đó í tai biết rằng chính sự bao bọc ,che chở, quan tâm quá mức đó đã làm cho trẻ thiếu hiểu biết về thực tế của cuộc sống ,thiếu những kĩ năng sống cơ bản, không biết tự bảo vệ mình , chăm sóc bản thân , từ những việc đơn giản như: Chải tóc , đánh răng, mặc quần áo trẻ cũng hoàn toàn ỉ lại và phụ thuộc vào bố mẹ ,cô giáo gặp những tình huống hết sức đơn giản trẻ cũng không tự mình xử lý được . GDKNS giúp trẻ được trang bị kiến thức , kĩ năng, kinh nghiệm,để không bị bỡ ngỡ khi gia nhập vào xã hội và từ đó giúp trẻ sống thân thiện với moi người , đồng thời trẻ có khẳ năng xử lý các tình huống ,hoàn cảnh bát cập trong cuộc sống , tạo điều kiện giúp trẻ phát triển cân đối hài hòa hơn. Kỹ năng sống là một yếu tố quan trọng điều khiển ý thức và hành vi của con người. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non sẽ mang lại cho các cháu rất nhiều lợi ích về mặt sức khỏe, giáo dục và cả văn hóa xã hội, giúp các cháu sớm có một cơ thể cường tráng, lành mạnh về trí tuệ cũng như thể lực, sớm có ý thức và khả [2] năng thích nghi với cuộc sống, làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như cho cộng đồng. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là việc rất quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách cho trẻ đến tuổi trưởng thành. Có thể giáo dục kỹ năng sống từ tuổi Mầm non, bởi vì ở lứa tuổi này đã hình thành những hành vi cá nhân, tính cách và nhân cách. Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hoà bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội. Trẻ em là giai đoạn học, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống để phát triển Nhân cách, do đó cần giáo dục kỹ năng sống cho trẻ để trẻ có nhận thức đúng và có hành vi ứng xử phù hợp ngay từ khi còn nhỏ. Là một giáo viên mẫu giáo 5 - 6 tuổi và giáo, Tôi nhận thức đặc biệt rằng ở lứa tuổi tôi đang giảng dạy lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi việc giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn những giải pháp khác nhau mà quyết định phải xuất phát từ trẻ, vì thế học phải hết sức gần gũi với cuộc sống, nội dung phải xuất phát từ chính nhu cầu và kinh nghiệm của trẻ, trẻ cần có điều kiện để cọ sát, các ý kiến khác nhau, trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành và áp dụng. Tôi luôn băn khoăn, trăn trở để tìm các biện pháp đưa giáo dục kỹ năng sống vào hoạt động dạy và rèn trẻ một cách có hiệu quả nhất. Tôi mạnh dạn nghiên cứu tìm các giải pháp mới với đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng khi tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi ”. 2. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu để tìm ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng khi tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi trong trường mầm non -Việc dạy kỹ năng sống cho trẻ có tầm quan trọng rất lớn đối với trẻ : +Trẻ có thể phát triển khả năng giao tiếp với mọi người , khả năng biết tự kiểm soát , thể hiện các cảm giác của mình , biết cách ứng xử phù hợp với các yêu cầu ,biết giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập có những ảnh hưởng rất quan trọng đối với kết quả học tập của trẻ tại trường . [3] + Giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt : phát triển thể chất , phát triển tình cảm xã hội, phát triển thẩm mỹ, phát triển nhận thức ,phát triển ngôn ngữ ,sáng tạo và đặc biệt hơn nữa rèn cho cháu một nề nếp lối sống tự tin trong sáng ngay từ những ngày đầu . + Trẻ có kiến thức cơ bản nhất định và được trang bị chu đáo sẵn sàng cho cháu bước vào lớp 1. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng nhất của bậc học mầm non đặc biệt là mẫu giáo lớn. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu. Biện pháp nâng cao chất lượng khi tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi ”. - Phạm vi nghiên cứu.Trẻ mẫu giáo (5-6 tuổi) lớp A2 Trường mầm non Đồng kỳ -Yên Thế -Bắc Giang 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ trong lứa tuổi 5 – 6 tuổi. - Tìm hiểu hoạt động chủ đạo của lứa tuổi mầm non, vai trò của việc hình thành kỹ năng sống tốt giúp trẻ phát triển toàn diện và tự tin hơn khi vào lớp 1. - Tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng khi tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống trẻ 5- 6 tuổi. - Tổ chức thực hành áp dụng những kỹ năng đó vào thực tế cho trẻ, giúp trẻ mạnh dạn tự tin khi hơn trong cuộc sống, có kỹ năng bình tĩnh xử lý mọi tình huống diễn ra trong cuộc sống thực tế của trẻ. - Đưa ra những ý kiến đề xuất nhằm góp phần giúp giáo viên và trẻ có những biện pháp sáng tạo trong quá trình tổ chức dạy và rèn cho trẻ có một số kỹ năng sống tốt. 5. Phương pháp nghiên cứu: * Phương pháp nghiên cứu lý luận: - Sử dụng các tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình CSGD trẻ mẫu giáo. - Các tuyển tập bài hát, câu đố, trò chơi dành cho trẻ lứa tuổi mầm non. - Các chuyên san, chuyên đề, tạp chí chuyên ngành GDMN. - Các văn bản chỉ đạo chuyên môn cấp học mầm non . - Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát những vấn đề liên quan đến đề tài. * Nhóm phương pháp thực tiễn: [4] - Tiến hành điều tra thực trạng về việc hình thành kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi A2 trường mầm non. - Thường xuyên tổ chức các kỹ năng đó trong thực tiễn. - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế. - Phương pháp thực hành trải nghiệm - Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu. 6. Những đóng góp của đề tài -Đề tài này óp phần đem lại những kinh nghiệm khi dạy trẻ nâng cao kỹ năng trong cuộc sống giúp trẻ trang bị tốt mọi hành trang trong cuộc sống +Trẻ có kỹ năng mạnh dạn , linh hoạt và tự tin trong giao tiếp, chào hỏi +Hình thành cho trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ . +Tạo cho trẻ kỹ năng hợp tác , hoạt động nhóm. +Phát triển kỹ năng tư duy,nhận thức cho trẻ +Trẻ có kỹ năng xử lý các ình huống trong cuộc sống , kỹ năng phòng tránh thất lạc , bắt cóc - Qua đó giúp trẻ phát triển tốt mọi mặt đức ,trí ,thẩm mỹ. 7. Kết cấu của đề tài: Đề tài gồm 3 phần: MỤC LỤC PHẦN 1 PHẦN MỞ 1 Lý do chọn đề tài ĐẦU 2. Mục đích nghiên cứu đề tài. 3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu. 5. Phương pháp nghiên cứu. 6. Những đóng góp mới của đề tài. 7. Kết cấu của đề tài. PHẦN 2 PHẦN NỘI Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên DUNG cứu. 1.Cơ sở lý luận 2.Cơ sở thực tiễn Chương 2: Thực trạng của vấn đề cần nghiên cứu [5] 1.Thuận lợi 2.Khó khăn Chương III: Những giải pháp và kết quả 1.Những giải pháp 2.Kết quả thực hiện Chương IV: Một số ý kiến đề xuất 1.Đối UBND xã Đồng kỳ 2.Đối với PGD&ĐT huyện yên thế PHẦN III NHỮNG KẾT LUẬN CHUNG TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN II : NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở lý luận: Vấn đề giáo dục con người là vấn đề của mọi thời đại, mọi quốc gia dân tộc và cũng là của mọi nhà, mọi người. Vì vậy, việc giáo dục con người ngay từ những năm tháng đầu đời là vô cùng quan trọng, có vai trò đặc biệt trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người đó. Trong thời đại ngày nay, trẻ em luôn được xác định là tương lai của đất nước, là những chủ nhân quyết định vận mệnh đất nước, Bác Hồ kính yêu đã dạy “Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ thơ”. Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta đã và đang quan tâm sâu sắc đến trẻ thơ, quan tâm về mọi mặt nhằm phát triển về đức - trí - thể - mĩ cho trẻ. Đối với ngành giáo dục, Bộ Giáo dục- Đào tạo đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực”, với yêu cầu tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo. Trong năm nội dung thực hiện có nội dung rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Trong tài liệu Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non có nêu trí nhớ của trẻ Mầm non là trực quan hình tượng. Sở dĩ trẻ nhớ được là do trẻ đã được trải nghiệm, được nhìn thấy. Chính vì thế giáo viên nói riêng và người lớn nói chung [6] luôn phải gương mẫu, dạy cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi nhằm hình thành cho trẻ những kỹ năng sống ban đầu. Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ có thể tiến hành trong tất cả các hoạt động giáo dục hàng ngày như: vui chơi, học tập, chăm sóc sức khỏe, lao động vừa sức, lễ hội, tham quan...Mỗi hoạt động có ưu thế riêng đối với việc dạy những kỹ năng sống cần thiết với cuộc sống của trẻ. Để có được kỹ năng sống trẻ cần phải có thời gian, trong một quá trình tập luyện thường xuyên với sự hỗ trợ của người lớn và bạn bè. 2. Cơ sở thực tiễn: * Tình hình chung: Trường mầm non Đồng kỳ nằm trên địa bàn xã Đồng kỳ, nhìn chung cơ sở vật chất của nhà trường khang trang , sạch đẹp có nhiều phòng học kiên cố Nhà trường có 2 khu và 14 nhóm lớp. Hiện tại nhà trường mới được đầu tư 4 phòng học mới có nhà vệ sinh khép kín hiện đại. Nhà trường có tổng số 33 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, trẻ chung và năng động.....Tất cả đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn. Giáo viên luôn gần gũi với trẻ và luôn tạo cho trẻ có một tâm lý thoải mái trong tất cả các hoạt động,tạo cơ hội cho trẻ được chải nghiệm, tôn trọng trẻ, khuyến khích sự sáng tạo của trẻ.... *Cơ sở vật chất: Lớp học sạch sẽ, phòng học có đủ diện tích, ánh sáng, trang thiết bị đồ dùng học tập tương đối đầy đủ. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Ngày nay ngành giáo dục mầm non nói chung và giáo dục mầm non Đồng kỳ nói riêng đã đươc các cấp lãnh đạo,cấp uỷ chính quyền địa phương,các ban ngành đoàn thể,các bậc phụ huynh và toàn xã hội quan tâm,đầu tư trang thiết bị.....song vẫn còn một số thuận lợi và khó khăn sau: 1. Thuận lợi: 1.1 Về phía trường, lớp: Nhà trường cũng như các nhóm lớp luôn được các cấp lãnh đạo, các ban ngành đoàn thể quan tâm, ủng hộ đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học. [7] 1.2. Về phía giáo viên: Trong năm học 2018 – 2019, tôi được phân công chủ nhiệm lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi được trực tiếp giảng dạy tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi, việc dạy trẻ, chăm sóc trẻ trực tiếp là điều kiện tốt để tôi tìm hiểu và giảng dạy trẻ một cách phù hợp và hiệu quả. Bản thân tôi là một giáo viên trẻ với thâm niên 14 năm công tác, được đào tạo đúng chuyên ngành , có chuyên môn vững vàng, có kiến thức kỹ năng sư phạm tốt, yêu nghề mến trẻ, tận tụy với nghề. Luôn thường xuyên hăng hái trong công việc, nhiệt tình tham gia các lớp tập huấn về và đã tìm tòi được rất nhều tài liệu về lĩnh vực này. Lớp tôi có 2 giáo viên đều đạt trình độ cao đẳng, luôn đoàn kết, nhiệt tình trong công việc. Bản thân đã được tham gia các lớp học chuyên đề do nhà trường cùng Phòng giáo dục tổ chức về việc thực hiện. 1.3 Về phía học sinh: Các con ngoan ngoãn, lễ phép, đi học đều, có sức khỏe tốt. . Đó là điều kiện tốt để cho tôi áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng tổ chức trò chơi dân gian đạt hiệu quả cao nhất. 1.4 Về phía phụ huynh học sinh: Phụ huynh lớp tôi đa phần là nông dân và công nhân lên thơi gian dành cho con còn ít vì vậy thời gian trẻ được ở trường nhiều hơn ở nhà ,lên họ luôn tin tưởng giao con em mình cho giáo viên chăm sóc và dạy dỗ. Nhờ sự tuyên truyền của giáo viên lên các bậc phụ huynh đã hiểu được rất rõ vai trò của trò chơi dân gian cho sự phát triển toàn diện cả về thể chát lẫn tinh thần của trẻ mầm non. 2. Khó khăn: Trường Mầm non Đồng kỳ vẫn còn hạn chế về không gian, điều kiện cơ sở vật chất trong việc tạo khu vui chơi riêng cho trẻ: như các cháu học ở các lớp trên tầng. Đồ chơi ngoài trời còn ít chưa phong phú Trong lớp một số trẻ tiếp thu bài còn hạn chế, chưa hứng thú tham gia vào quá trình chơi nên ảnh hưởng đến quá trình tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống. 3. Kết quả của thực trạng: Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực trạng, ngay từ tháng 9 đầu năm học tôi xây dựng kế hoạch khảo sát chất lượng trên trẻ ở lớp tôi như sau: [8] Số Đạt Chưa đạt Mức độ nội dung khảo sát trẻ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ khảo Lượng % Lượng % sát 1.Kỹ năng giao tiếp, chào hỏi 27 10 37% 17 63% 2.Kỹ năng tự lập, tự phục vụ 27 8 30% 19 70% 3.Kỹ năng hợp tác, hoạt động 27 10 37% 17 63% cùng nhóm 4.Trẻ mạnh dạn tự tin 27 7 26% 20 74% 5.Kỹ năng nhận thức 27 8 30% 19 70% 6.Kỹ năng xử lý các tình huống 27 6 22% 21 78% Từ kết quả đạt được của những năm học trước và kết quả thực tế đạt được trên đây. Là một giáo viên Mầm non, trong những năm qua tôi luôn băn khoăn, trăn trở với chất lượng của cháu mình. Vì vậy tôi đã đi sâu vào nghiên cứu, tham khảo và tìm ra các giải pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ một cách có hiệu quả nhất. Sau đây tôi xin đưa ra “Một số biện pháp nâng cao chất lượng khi tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi”. CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ Từ những thuận lợi và khó khăn trên đây, tôi đã nghiên cứu đề ra một số biện pháp cụ thể như sau: 1. Những giải pháp: a. Giải pháp 1: Tự học tự bồi dưỡng trao dồi kiến thức cho bản thân, tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. * Tự học tự bồi dưỡng trao dồi kiến thức cho bản thân: Giáo viên mầm non không chỉ nghiên cứu nắm vững mục đích yêu cầu của hoạt động mà giáo viên còn cần phải nắm chắc được các phương pháp và biện pháp thực hiện giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, không bị gò bó, áp đặt, giúp trẻ hiểu bài sâu và vận dụng những điều đã học vào thực tế hàng ngày của trẻ. Vì vậy, để giúp trẻ 5 – 6 tuổi lớp tôi có được những kỹ năng sống cơ bản đó thì sự nhiệt tình, sáng tạo và yêu nghề đòi hỏi tôi phải không ngừng đọc và nghiên cứu kỹ chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non 5- 6 tuổi - Tham gia các đợt kiến tập và các chương trình chuyên đề do phòng tổ chức. [9] - Tìm đọc tham khảo biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ trên sách báo, tạp chí mầm non. + Sách hướng dẫn các hoạt động phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ mầm non theo bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi. + Sách giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ mầm non “ nhà xuất bản đại học quốc gia”. + Sách bé thực hành các tình huống giáo dục kỹ năng sống dành cho trẻ mẫu giáo. + Sách các hoạt động phát triển kĩ năng xã hội dành cho trẻ mẫu giáo. Sách phương pháp giáo dục giá trị kỹ năng sống + Xem các chương trình truyền hình như quà tặng cuộc sống, cuộc sống quanh ta trên các kênh truyền hình như VTV3 vào tối chủ nhật hàng tuần Tôi nhận thấy đây là một vấn đề quan trọng vì nó quyết định đến nhân cách của trẻ sau này. Chính vì vậy qua việc tự bồi dưỡng bản thân, học hỏi qua truyền thông, báo đài, tài liệu cũng như xem các phương tiện thông tin hiện đại, tôi đã nắm vững được các phương pháp để dạy trẻ một số kỹ năng cơ bản nhất. Để dạy trẻ được những kỹ năng sống thì việc đầu tiên cô giáo phải là tấm gương để trẻ soi vào, để trẻ học làm người. Chính vì vậy, không phương pháp nào hiệu quả bằng phương pháp “ Dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”. Những người dạy nội dung giá trị và kỹ năng sống càng cần là tấm gương mẫu mực về hành vi, lời ăn, tiếng nói, cách ứng sử, cách giải quyết vấn đề Đây là những yêu cầu rất cao và đòi hỏi các cô giáo cũng luôn phải tự rèn luyện mình để công tác giáo dục trẻ hiệu quả hơn. * Tìm hiểu những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi và xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Để bắt đầu với đề tài này, tôi đã xác định được công việc trước tiên cần phải làm đó là tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 -6 tuổi để từ đó có được cơ sở cho việc đưa ra các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ phù hợp nhất. Trẻ 5 - 6 tuổi ngày càng ý thức mình là một thành viên trong tập thể, trẻ rất dễ dàng sử dụng vốn từ vựng để khen, chê hay “chỉnh” những đứa trẻ khác nhằm hướng sự chú ý của người khác vào chúng và thuyết phục các bạn cùng chơi khác chấp nhận ý tưởng mà chúng đưa ra. [10] Trẻ rất thích chơi với trẻ khác, có thể dọa dẫm để dành lại một đứa bạn hoặc để được tham gia vào một nhóm bạn. Vậy nên, đôi khi ta có thể nghe thấy chúng nói với nhau “mình là bạn nhé” hoặc “mình không chơi với bạn đâu” Trẻ 5 - 6 tuổi cần nhiều không gian để chơi vì trò nào chúng cũng có thể chơi được, chúng có thể tranh dành đồ chơi thậm chí còn đánh đấm nhau để dành được đồ chơi. Trẻ thích được khám phá những điều mới lạ. Chúng tin vào những gì chúng nhìn thấy, nghe thấy và chạm vào. Ở tuổi này trẻ cũng rất tò mò và hay đặt câu hỏi “Tại sao?” Từ việc tìm hiểu và nắm được các đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ đã giúp tôi xây dựng nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ được dễ dàng và đạt hiệu quả cao hơn. Mục đích của việc dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm. Từ đây, chúng ta xác định được những nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi bao gồm: b. Giải pháp 2: Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ trong cuộc hàng ngày Cách giao tiếp không chỉ quan trọng trong những năm trẻ đi học mà còn rất quan trọng đối với cuộc sống sau này của trẻ. Kỹ năng giao tiếp là một kỹ năng nền tảng để giúp trẻ nhận biết giá trị sống và hình thành kỹ năng sống. Vì thế cần quan tâm và giúp trẻ một cách tự nhiên từng bước một trong suốt chiều dài phát triển nhân cách của trẻ. * Kỹ năng trẻ chào hỏi khi giao tiếp với người lớn tuổi. Như ở phần đặt vấn đề tôi đã nêu các cháu hầu hết chưa có các kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng chào hỏi lí do phụ huynh đều là thuần nông và điều quan trọng họ chưa có khái niệm dạy kỹ năng cho trẻ, mà chủ yếu là nuông chiều với suy nghĩ đơn giản là trẻ nhỏ chưa biết gì, chiều nó chút cũng không sao. Nhưng điều đó sẽ tạo nên những hành vi và nhận thức sai lệch của trẻ mà dần dần sẽ biến thành thói quen khó thay đổi. Vì vậy đối với trẻ người lớn cần tập cho trẻ những lời nói lễ phép và tự nhiên, không quá màu mè và hình thức, cũng không được phép cộc lốc và xuồng xã. Điều này trẻ sẽ học được một cách hiệu quả thông qua cách giao tiếp và ứng sử của bố, mẹ, người thân trong gia đình, cô giáo và người khác. Chúng ta sẽ không thể kiểm soát được khi người lớn trong gia đình nói năng thô lỗ và không có hành vi lịch sự tối thiểu. Trong xã hội hiện nay với công nghệ tiên tiến, phát triển không ngừng về mọi mặt, thì những kỹ năng giao tiếp, chào [11] hỏi tối thiểu lại mất dần đi. Và tôi quyết định đưa kỹ năng chào hỏi và kỹ năng giao tiếp vào những giờ đón, trả trẻ: - Cô động viên trẻ mạnh dạn giao tiếp với cô, với bạn bè và người khác. Hình ảnh: Trẻ đã có thói quen chào hỏi và giao tiếp với mọi người Ngoài ra tôi còn sưu tầm những bài thơ , câu truyện, bài hát có nội dung giáo dục về lễ giáo. Ngoài ra tôi còn cho trẻ tham gia trò chơi đóng vai để trải nghiệm những kỹ năng chào hỏi và giao tiếp. Tạo tình huống cụ thể để giúp trẻ giải quyết và chọn cách giao tiếp với người lớn cho phù hợp. * Kỹ năng trẻ giao tiếp với bạn bè. Lớp học chính là một thế giới thu nhỏ của xã hội chúng ta ngày nay, là nơi đa văn hóa, đa tính cách và cũng đa sở thích. Mô hình này tạo cơ hội cho giáo viên có thể dạy cho trẻ học cách chấp nhận và có cơ hội để khám phá những sở thích, những mối quan tâm chung của nhau. Để giúp trẻ phát triển kỹ năng chơi với các trẻ khác tôi tạo môi trường cho trẻ giao tiếp với nhau và tạo tình huống cho trẻ tự giải quyết. Và tôi đưa ra “tiêu chí” không tranh giành đồ chơi với bạn. trong tiêu chí này tôi lên kế hoạch rèn cả lớp nói chung, cứ vào các buổi chiều bình bầu và nhận xét buổi chơi, tôi cho cả lớp [12] nhận xét xem trong giờ chơi bạn nào còn tranh giành đồ chơi thì bạn đó sẽ không được cắm cờ, cuối tuần bạn nào có nhiều cờ sẽ được bé ngoan, ngoài ra trong các giờ chơi, giờ đón trả trẻ, trẻ nào có biểu hiện hành vi sai trái là tôi giải thích và sửa ngay cho trẻ, việc làm đó rất tốt đối với trẻ vì trẻ biết được điều gì nên làm và điều gì không nên làm và nhân cách sống của trẻ sẽ được phát triển toàn diện hơn. Hình ảnh: Trẻ giao tiếp với bạn bè khi chơi Ngoài ra tôi còn sưu tầm một số câu chuyện, bài thơ mang tính giáo dục. Giúp trẻ thấy các nhân vật trong câu truyện , bài thơ khi giao tiếp với nhau như thế nào? Bài thơ: “ Biết cảm ơn xin lỗi” - Tính cách mỗi trẻ mỗi khác, có những trẻ hoạt bát, hiếu động nhưng cũng có những trẻ chậm chạp, thụ động hay quá nóng nảy Vì thế giáo viên cần phải [13] biết rõ tính cách của từng trẻ để có thể cho các trẻ chơi với những người bạn thích hợp với cá tính nhằm tránh sảy ra những va chạm về tính cách. Vì vậy trước khi chơi tôi thường cho trẻ đọc bài thơ: “Giờ chơi của c. Giải pháp 3: Lồng ghép kỹ năng sống thông qua hoạt động học tập và vui chơi của trẻ * Thông qua hoạt động học tập: - Trong các hoạt động học tập, mỗi hoạt động giáo viên có thể rèn luyện cho trẻ một kỹ năng sống riêng và hình thành cho trẻ những kỹ năng tốt trong cuộc sống. - Để hình thành và giáo dục nhân cách sống tốt cho trẻ về lòng tốt, lòng nhân ái sự chăm chỉ cần cù trong lao động, không tham lam ích kỷ, mưu trí dung cảm để xử lý các tình huống diễn ra trong cuộc sống Thì giáo viên nên khéo léo lồng ghép những câu truyện cổ tích, những bài thơ hay những câu ca dao, tục ngữ Điều đó sẽ hình thành lên trong tâm hồn trẻ thơ một nhân cách một kỹ năng sống nhân văn. -VD: Trong bài thơ “Chú bộ đôi hành quân trong mưa” trẻ được tái hiện lại hình ảnh chú bộ đội hiểu được lỗi vất vả của các chú từ đó trẻ sẽ biết yêu quê hương ,yêu đất nước ,Sống vì mọi người hơn. -Hay câu chuyện “Ai đáng khen nhiều hơn” trẻ không chỉ học được cách giúp đỡ những người thân trong gia đình từ thỏ em mà còn học được lòng tốt của thỏ anh là luôn giúp đỡ mọi người khi gặp khó khăn , hoạn nạn. [14] Hình ảnh: trẻ tham gia thể hiện bài thơ , câu truyện như:“ chú bộ đội hành quân trong mưa” “Ai đáng khen nhiều hơn” - Trong thực tế cuộc sống hàng ngày của trẻ không thể thiếu đi sự giao lưu, hợp tác với các bạn trong nhóm để cùng tư duy, cùng nhau làm việc, cùng hợp tác để giải quyết các vấn đề diễn ra trong cuộc sống. Vì vậy với những môn học toán, khám phá .Sẽ giúp trẻ có những kỹ năng tư duy, kỹ năng hợp tác rất tốt. - Thể dục là môn học tạo cho trẻ những kỹ năng mạnh dạn, tự tin, phản xạ nhanh nhẹn, khéo léo. * Hình thành thói quen tốt trong hoạt động vui chơi. Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo đối với trẻ mầm non. Vì vui chơi được xem như là sách giáo khoa của trẻ. Qua hoạt động vui chơi được trẻ đón nhận một cách hứng thú và tích cực nhất, bởi nó đáp ứng được nhu cầu của trẻ, trong thế giới đồ vật trẻ được tha hồ vui chơi và sáng tạo. Việc tổ chức tốt hoạt động vui chơi không chỉ giúp hình thành khả năng mà còn đặt nền tảng khá vững chắc để phát triển những kỹ năng sống cho trẻ. [15] Hình ảnh: Trẻ có kỹ năng hợp tác nhóm khi tham gia các trò chơi -Trong giờ hoạt động ngoài trời: Tôi đưa kỹ năng sống tự tin: Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi nơi. Kỹ năng có ý thức chăm sóc cây xanh và bảo vệ môi trường. [16] Hình ảnh: Trẻ có kỹ năng về ý thức chăm sóc và bảo vệ môi trường d. Giải Pháp 4: Giáo dục trẻ kỹ năng sống thông qua lao động tự phục vụ và các hoạt động khác trong ngày. - Ngoài hoạt động chung, hoạt động vui chơi ra tôi còn hướng dẫn dạy trẻ kỹ năng sống thông qua các hoạt động lao động tự phục vụ và các hoạt động khác như: - Trong giờ đón trả trẻ: Tôi cùng các giáo viên khác trò chuyện với trẻ, giáo dục trẻ kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự cất giầy dép, ba lô đúng nơi quy định ngoài ra tôi còn dạy trẻ biết chào hỏi, biết nói lời xin lỗi, biết nói cảm ơi, không nói leo khi người khác nói, không tự tiện lấy đồ và sử dụng đồ của người khác Hình ảnh trẻ chào cô khi đến lớp [17] Hình ảnh: Trẻ có kỹ năng cất đồ dùng cá nhân đúng quy định - Trong giờ thể dục sáng: Dưới sân trường tôi kết hợp kỹ năng đi lên, xuống cầu thang cho trẻ đi đúng theo bước chân, chân nào trước, chân nào sau, đi theo hàng lối, không chen lấn xô đẩy bạn. Kỹ năng xếp hàng tập thể dục, tự lấy đồ dùng dụng cụ trong buổi tập. Hình ảnh: Trẻ có kỹ năng tự giác tham gia buổi tập thể dục. Hoạt động tham gia cùng cô giáo và các bạn sắp xếp đồ dùng, đồ chơi phục vụ học tập vui chơi cũng góp phần quan trọng giáo dục kỹ năng hợp tác cùng hoàn [18] thành nhiệm vụ cho trẻ. Chính vì vậy, trong năm học Tôi đã cùng Trẻ làm và hướng dẫn trẻ sắp xếp đồ dùng đồ chơi. Tôi xác định được rằng: Tập cho trẻ có những kỹ năng sống, kĩ năng tự phục vụ bản thân, từng bước hình thành nhân cách sống cho trẻ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trên cơ sở đó, tôi sẽ giao nhiệm vụ và hướng dẫn cho trẻ cách sắp xếp đồ dùng cá nhân của trẻ và đồ chơi trong lớp. Tùy vào từng nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của trẻ mà quy định thời gian thực hiện ngắn hay dài. Trẻ lớp tôi đã có ý thức tự lấy ghế và cất ghế khi không dùng đến một cách gọn gàng và ngăn lắp. Hình ảnh: Trẻ có kỹ năng cất ghế và lấy ghế gọn gàng và ngăn lắp - Trong giờ vệ sinh: Tôi dạy trẻ các kỹ năng tự phục vụ như: Rửa mặt, rửa tay bằng xà phòng và đi vệ sinh đúng nơi quy định. [19] - Trong giờ ăn: cũng vậy tôi cùng các giáo viên khác dạy trẻ những nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó dạy trẻ những kỹ năng tự lao động phục vụ, rèn tính tự lập như biết tự đi lấy bát thìa theo số lượng của tổ mình và biết được lần lượt ngày trực nhật của mình theo tổ, khi ăn, biết ăn uống lịch sự, không nói chuyện trong khi ăn, và chỉ ăn uống tại bàn ăn của mình, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, biết ăn hết xuất, không làm rơi vãi khi ăn, khi ăn nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, biết tự dọn, cất bát thìa đúng nơi quy định, biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn không làm ảnh hưởng đến người khác . Ngoài ra trước những giờ ăn tôi thường lồng ghép các bài hát, bài thơ “Giờ ăn, và bài thơ “Bé ơi nhớ nhé”. Dạy lồng ghép kỹ năng vệ sinh và giờ ăn cho trẻ. Hình ảnh: Các con tự phục vụ trong giờ ăn [20]
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_khi_to_chuc_hoat_dong_g.doc
