Một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc Khmer 5 - 6 tuổi
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết và là công cụ của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc. Với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc ở Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sinh hoạt cộng đồng dân tộc, cũng sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp với cộng đồng người Việt trên toàn quốc. Sự giao thoa văn hoá ngôn ngữ làm phong phú thêm cho nền văn hoá của người dân tộc thiểu số. Có thể nói rằng “Cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự là một cộng đồng song ngữ”, tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc và tiếng Việt của người Kinh.
Tiếng Việt còn gọi là tiếng phổ thông với tư cách là ngôn ngữ Quốc gia, là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học. Ở trường mầm non việc cần làm là giúp trẻ trước độ tuổi đi học phát triển tốt ngôn ngữ, phù hợp với từng lứa tuổi và sự phát triển chung của trẻ. V.I Lênin cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người”. Do đó, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không thể phát triển thành người một cách thực thụ. Muốn nói được, muốn giao tiếp được với mọi người xung quanh thì đứa trẻ phải được trải qua quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ .
Thực tế cho thấy chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tiếng Việt của học sinh. Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số khi tới trường, lớp mầm non đều chưa được sống trong môi trường tiếng Việt.
Đối với những trẻ thành thạo tiếng phổ thông việc giao tiếp và thu nhận tri thức và thực hiện những yêu cầu của giáo viên một cách rất dễ dàng, xong đối với trẻ dân tộc thiểu số đây là cả một vấn đề khó khăn và đòi hỏi nhà giáo dục cần phải có những biện pháp phù hợp.
Đặc biệt ở lớp Lá 5 trường mầm non Sen Hồng, có 17/25 trẻ dân tộc Khmer (65%) nghe, hiểu và nói tiếng Việt rất kém mặc dù cô giáo đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, nhiệt tình thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng. Tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng thường xuyên đối với trẻ dân tộc Khmer. Ở đây trẻ chỉ dùng tiếng Việt giao tiếp với giáo viên khi cần thiết.
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỒNG DÂN TRƯỜNG MẦM NON SEN HỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DÂN TỘC KHMER 5-6 TUỔI Người thực hiện: Dương Ngọc Trân Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường mầm non Sen Hồng Năm học: 2022-2023 LỜI TỰA Ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu hiểu biết và lĩnh hội những khái niệm, những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Tuy mới chỉ là những khái niệm ban đầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định những nét tính cách riêng biệt của mỗi con người trong tương lai. Muốn cho các bé hiểu và lĩnh hội những khái niệm đạo đức này, chúng ta không thể thông qua những hoạt động cụ thể hoặc qua những sự vật hiện tượng trực quan đơn thuần, mà phải có ngôn ngữ. Bởi vì ngôn ngữ có vai trò rất lớn đối với con người, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu giữa người với người, nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm,... Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ có thể thể hiện được đầy đủ những nhu cầu và nguyện vọng của mình. Khi đã có một vốn ngôn ngữ nhất định trẻ sử dụng ngôn ngữ như một biểu hiện nhận thức của mình. Trẻ có thể dùng lời nói để diễn đạt những suy nghĩ, những cảm xúc của mình. Trẻ còn dùng ngôn ngữ để đặt ra muôn vàn câu hỏi, yêu cầu, nguyện vọng, thể hiện biết bao thái độ, tình cảm yêu, ghét, Trẻ hiểu được chỉ dẫn của người lớn, của cô giáo thì các hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy của trẻ được chính xác, kích thích trẻ tích cực hoạt động, kích thích trẻ nói và sự hiểu biết của trẻ ngày càng được nâng lên. Nếu trẻ bị vướng mắc một rào cản nào đó về ngôn ngữ (không hiểu lời nói người khác) đối với trẻ em thuộc dân tộc thiếu số, mà cụ thể ở đây là trẻ dân tộc Khmer ngôn ngữ giao tiếp chủ yêu là tiếng mẹ đẻ (tiếng Khmer) thì không ai khác người giáo viên mầm non là người trực tiếp tháo gở để trẻ có thể tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng. Chính vì điều này mà tôi mạnh dạn lựa chon đề tài “Một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc Khmer 5 - 6 tuổi.” Để nhằm giúp trẻ dân tộc thích được đến lớp và giao tiếp bằng tiếng Việt rõ ràng mạch lạc, để trẻ tự tin trong cuộc sống và hứng thú học tập, tham gia vào các hoạt động trong trường mầm non đạt kết quả tốt. Chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào tiểu học. Người viết Dương Ngọc Trân 1 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DÂN TỘC KHMER 5 - 6 TUỔI” a. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết và là công cụ của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc. Với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc ở Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sinh hoạt cộng đồng dân tộc, cũng sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp với cộng đồng người Việt trên toàn quốc. Sự giao thoa văn hoá ngôn ngữ làm phong phú thêm cho nền văn hoá của người dân tộc thiểu số. Có thể nói rằng “Cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự là một cộng đồng song ngữ”, tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc và tiếng Việt của người Kinh. Tiếng Việt còn gọi là tiếng phổ thông với tư cách là ngôn ngữ Quốc gia, là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học. Ở trường mầm non việc cần làm là giúp trẻ trước độ tuổi đi học phát triển tốt ngôn ngữ, phù hợp với từng lứa tuổi và sự phát triển chung của trẻ. V.I Lênin cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người”. Do đó, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không thể phát triển thành người một cách thực thụ. Muốn nói được, muốn giao tiếp được với mọi người xung quanh thì đứa trẻ phải được trải qua quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ . Thực tế cho thấy chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tiếng Việt của học sinh. Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số khi tới trường, lớp mầm non đều chưa được sống trong môi trường tiếng Việt. Đối với những trẻ thành thạo tiếng phổ thông việc giao tiếp và thu nhận tri thức và thực hiện những yêu cầu của giáo viên một cách rất dễ dàng, xong đối với trẻ dân tộc thiểu số đây là cả một vấn đề khó khăn và đòi hỏi nhà giáo dục cần phải có những biện pháp phù hợp. Đặc biệt ở lớp Lá 5 trường mầm non Sen Hồng, có 17/25 trẻ dân tộc Khmer (65%) nghe, hiểu và nói tiếng Việt rất kém mặc dù cô giáo đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, nhiệt tình thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng. Tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng thường xuyên đối với trẻ dân tộc Khmer. Ở đây trẻ chỉ dùng tiếng Việt giao tiếp với giáo viên khi cần thiết. 2 Với tình hình thực tế của trẻ lớp tôi như vậy, bản thân tôi luôn trăn trở, suy nghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, không biết làm gì và làm như thế nào? bằng phương pháp gì? để giúp trẻ hiểu và nói được Tiếng việt một cách trôi chảy, chính vì điều băn khoăn trăn trở ấy bản thân tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc Khmer 5-6 tuổi” để làm đề tài nghiên cứu. Nhằm giúp trẻ dân tộc thích được đến lớp và giao tiếp bằng tiếng Việt rõ ràng mạch lạc, để trẻ tự tin trong cuộc sống và hứng thú học tập, tham gia vào các hoạt động trong trường mầm non đạt kết quả tốt. I. SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta sử dụng lời nói để trò chuyện, đàm thoại, thảo luận, trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, giải thích một vấn đề nào đó trong cuộc sống như: Kể lại được sự việc, câu chuyện đã được nghe, được chứng kiến, hay tự mình nghĩ ra, sáng tạo ra. Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói của cô của những người xung quanh. Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu biết của mình theo ngôn ngữ Tiếng việt. Tăng cường tiếng Việt cho trẻ Dân tộc thiểu số là một việc làm hết sức cần thiết, tưởng chừng như rất dễ nhưng thực tế lại rất khó, mà nó đòi hỏi cả một quá trình, phải có sự kiên trì của cả giáo viên và trẻ. Dạy trẻ làm quen với tiếng Việt là dạy cái gì? dạy như thế nào? Trẻ làm quen với tiếng việt với tư cách là một công cụ, một phương tiện giao tiếp. Cách trả lời những câu hỏi trên sẽ liên quan tới việc lựa chọn nội dung, phương pháp cho trẻ dân tộc tiếp cận, làm quen dần với tiếng Việt. Khi ngôn ngữ phát triển, trẻ nghe và hiểu được lời nói khi giao tiếp sẽ góp phần quan trọng trong quá trình phát triển các kĩ năng, kiến thức. II. TỔNG QUAN THÔNG TIN 1. Quan điểm chỉ đạo: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, đảm bảo các em có kỹ năng cơ bản trong sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục mầm non, tạo tiền đề lĩnh hội trí thức của cấp học tiếp theo, đóng góp vào sự tiến bộ, phát triển của Giáo dục Hồng Dân nói chung và của Trường mầm non Sen Hồng nói riêng. Căn cứ vào công văn Số: 413 PGD-ĐT Hồng Dân nhày 11/11/2022 của phòng Giáo dục đào tạo Hồng Dân về việc Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số trong cơ sở Giáo dục mầm non. Căn cứ vào kế hoạch Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục của Trường mầm non Sen Hồng về việc Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số trong cơ sở Giáo dục mầm non. 3 2. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu để tìm ra một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc Khmer lớp lá 5. Để vận dụng phù họp vào điều kiện của Lớp mà bản thân được phân công. Từ đó giúp trẻ tiếp nhận tri thức một cách dễ dàng và đầy đủ nhất và đó sẽ là một lý do để nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục đây cũng là một nền móng tốt cho trẻ phát triển một cách toàn diện. 3. Đối tượng nghiên cứu. Trẻ dân tộc Khmer 5- 6 tuổi của lớp lá 5: Trường mầm non Sen Hồng. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong đề tài này tôi đã chọn và sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thu thập thông tin: Trò chuyện với đồng nghiệp, nghiên cứu sử dụng tài liệu, tham khảo sách báo, tạp chí, sách, mạng internet. - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Khảo sát trên trẻ quan sát thái độ, khả năng nhận biết của trẻ. - Phương pháp phân tích giảng giải cung cấp kiến thức, kỹ năng cho trẻ - Phương pháp thực hành trải nghiệm. - Phương pháp thống kế, xử lý số liệu. - Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm . - Phương pháp tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh. 5.Tính mới, tính khoa học của vấn đề nghiên cứu. - Tính mới: Để nghiên cứu vấn đề này, Trước hết xác định nhiệm vụ trọng tâm. Vân dụng quan điểm chỉ đạo của các cấp vào thực tiễn lớp Lá 5. - Thể hiện những việc mình làm: Khảo sát trên trẻ khả năng hiểu cà sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt. Xây dựng một số giải pháp cải thiện thực tế. Tuyên truyền phụ huynh khuyến khích trẻ dùng Tiếng Việt tích cực giao tiếp với cô. Cải thiện môi trường chữ Viết. b. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN Đối với sự phát triển nhân cách của con người và xã hội nói chung, của trẻ mầm non nói riêng, thì ngôn ngữ và giao tiếp có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn ngữ chỉ có ở con người và cũng chính từ lao động con người tiến hóa từ vượn thành người và phát triển. V.I.Lênin nói: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”. Ở lứa tuổi mầm non là thời kì phát cảm ngôn ngữ và 4 giao tiếp, đây là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ và các kĩ năng đọc viết ban đầu của trẻ. Ở lĩnh vực này trẻ đạt được những thành tích vĩ đại mà ở các giai đoạn sớm hay muộn hơn không thể có được. Trẻ học nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng từ ngữ để chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của bản thân, hiểu mục đích và cách thức con người sử dụng chữ viết. Cùng với quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, trẻ còn lĩnh hội và phát triển các năng lực tư duy như xây dựng và biểu đạt ý tưởng, chia sẻ thông tin với người khác và tiếp nhận, đáp lại ý tưởng, thông tin của người khác. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy là phương tiện của giao tiếp, ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc phát triển các năng lực và kĩ năng xã hội của trẻ. Trẻ không chỉ sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ thái độ, suy nghĩ, tình cảm của bản thân đối với mọi người xung quanh mà còn để tiếp nhận, hiểu thái độ, suy nghĩ, tình cảm và giao tiếp của người khác. Trình độ phát triển ngôn ngữ và làm quen với đọc viết ban đầu còn góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị cho trẻ học tập ở trường phổ thông cũng như sự thành đạt trong cuộc sống sau này của trẻ. Việc phát triển ngôn ngữ và giao tiếp phải được tiến hành một cách tích hợp và tự nhiên. Trẻ cần được làm quen với ngôn ngữ nói, chữ viết trong ngữ cảnh cụ thể và thông qua các loại hình hoạt động phong phú như: Nghe, đọc, kể chuyện, đọc thơ, tham quan, dạo chơi, quan sát các kí hiệu chữ viết, bảng biểu trong phòng, ngoài trời, vui chơi, giao tiếp và các hoạt động khác trong học tập và sinh hoạt hàng ngày. Cha mẹ, giáo viên mầm non và người xung quanh trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng môi trường ngôn ngữ phong phú, tương tác, giao tiếp cũng như các cơ hội cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Đối với trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số thì về căn bản, học tiếng Việt đối với các cháu là học ngôn ngữ thứ hai (tiếng Việt phổ thông). Trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số khi học tiếng Việt có những khó khăn như: Trẻ em bắt đầu học tiếng Việt trên cơ sở kinh nghiệm tiếng Khmer. Môi trường giao tiếp tiếng Việt của trẻ em thu hẹp cả về mặt không gian lẫn thời gian (trong phạm vi trường mầm non). Trẻ học tiếng Việt chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ tiếng Khmer, sự giao thoa ngôn ngữ giữa tiếng Khmer và tiếng Việt. Sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, điều kiện sống có tác động nhất định đối với việc học tiếng Việt của trẻ em mẫu giáo dân tộc khmer. Vì thế việc giúp trẻ Khmer phát triển ngôn ngữ tiếng Việt trong giao tiếp là hết sức quan trọng và chúng ta là những người giáo viên mầm non hàng ngày trực tiếp chăm sóc giáo dục các cháu phải làm tốt việc cho trẻ được giao tiếp bằng ngôn 5 ngữ tiếng Việt phổ thông. Như vậy, giáo dục trẻ sẽ đạt được kết quả như mong muốn. II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trước đây có rất nhiều công trình nghiên cứu việc nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ dân tộc. Song việc vận dụng vào thực tiễn công tác tôi luôn trăn trở suy nghĩ để làm thế noà cho phù hợp nhất, Vì thực tế lớp Lá 5 tôi phụ trách số lượng trẻ dân tộc Khmer chiếm (65%). Năm học: 2022-2023, tôi được phân công dạy lớp 5 – 6 tuổi. Là một giáo viên chủ nhiệm lớp ở độ tuổi cuối cấp học mầm non, chuẩn bị bước sang cấp học mới tôi nhận thức được tầm quan trọng của mình. Làm thế nào để chuẩn bị đầy đủ hành trang cho trẻ bước vào lớp 1 trong tình hình ở lớp có nhiều trẻ dân tộc Khmer nhưng trẻ chưa thành thạo hay hiểu về tiếng Việt. Trẻ khó có thể tiếp thu các kiến thức khác mà cô truyền thụ. Làm cách nào trẻ có thể đạt được những mục tiêu của lớp Lá và chuẩn bị vững chắc hành trang cho bản thân trẻ thì tôi đã tiến hành nghiên cứu và nhận thấy được một số thuận lợi và khó khăn như sau: *Thuận lợi: Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của BGH nhà trường, nhiệt tình tâm huyết bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên để từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong toàn trường. Bản thân tôi rất tâm huyết với nghề nuôi dạy trẻ. Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thích tham gia hoạt động. *Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi trên thì bản thân còn gặp không ít những khó khăn trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ nói chung và hoạt động phát triển giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ nói riêng cụ thể như: - Lớp có 17/25 cháu là người dân tộc, ngôn ngữ giao tiếp của trẻ chủ yếu là tiếng Khmer. Lớp là một lớp điểm lẻ đặt tại địa bàn ấp Ninh Thạnh Đông dân cư trên 90% là dân tộc Khmer. - 2 giáo viên là người Kinh không thành thạo tiếng Khmer. - Giáo viên còn lúng túng trong việc xây dựng kế hoạch tăng cường tiếng việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số. - Đa số trẻ mới chưa qua các lớp nhóm, mầm, chồi vốn từ chưa được dồi dào, phong phú. Trẻ mới ra lớp ngôn ngữ nói tiếng Việt của trẻ còn hạn chế trẻ nhút nhát, chưa tự tin, không thích giao tiếp với mọi người xung quanh. - Đa số trẻ sống cùng ông bà, một bộ phận không biết đọc, biết viết. Ở gia đình, hàng xóm 100% giao tiếp với trẻ bằng tiếng mẹ đẻ. 6 Để thực hiện tốt việc giúp trẻ người dân tộc thiểu số giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt phổ thông đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động chăm sóc giáo dục, tổ chức đa dạng các hình thức giúp trẻ tích cực chủ động hoạt động khám phá lĩnh hội tri thức về phát triển ngôn ngữ tiếng Việt phổ thông một cách hệ thống phù hợp với khả năng của trẻ ở lớp. Qua quá trình đi khảo sát thực trạng về khả năng của trẻ mẫu giáo người dân tộc khmer giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt phổ thông bằng cách trò chuyện, tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Bản thân nhận thấy được kết quả thực trạng về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt phổ thông của trẻ ở lớp tôi phụ trách cụ thể như sau: III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DÂN TỘC KHMER 5-6 TUỔI 1. Khảo sát tình hình thực tế của lớp: Kết quả khảo sát thực trạng ban đầu. Kết quả T T.Số Đạt Chưa đạt Nội dung T trẻ Tổng Tổng % % số số 1 Trẻ phát âm rõ ràng mạch lạc. 25 8/25 32 17/25 68 2 Nghe hiểu và làm theo 2-3 yêu cầu liên 8/25 32 17/25 68 tiếp bằng tiếng việt 25 3 Trẻ mạnh dạn tự tin diễn đạt suy nghĩ, bằng tiếng việt. 25 7/25 28 18/25 72 4 Trả lời và đặt các câu hỏi : Tại sao? Như 25 7/25 24 19/25 76 thế nào? Để làm gì? Làm bằng gì? Có gì khác nhau? Bằng ngôn ngữ tiếng việt. Từ những kết quả khảo sát, thống kê trên đây ta có thể nhìn thấy rất rõ về việc phát tiển ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ chưa đáp ứng được với yêu cầu giáo dục mầm non hiện nay. Bản thân tôi đã nhận thấy việc giúp trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi người dân tộc Khmer giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Chính vì vậy, mà tôi đã nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp của mình, hy vọng rằng qua những biện pháp đó giúp trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi dân tộc Khmer giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt tốt để trẻ có thể được phát triển một cách toàn diện, đặc biệt tạo cơ sở vững chắc để trẻ bước vào bậc học tiếp theo. 7 2. Một số biện pháp. 2.1.Biện pháp 1: Biện pháp xây dựng môi trường tiếng việt phong phú, đa dạng giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt. - Đây là biện pháp hữu hiệu và cũng khá quan trọng trong việc giúp trẻ vùng dân tộc thiểu số giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt, bởi vì trong biện pháp này giáo viên muốn làm tốt công tác xây dựng môi trường tiếng Việt thì phải: Tạo được môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt Tạo được môi trường chữ viết trong lớp học. Đây là hai môi trường rất tốt giúp trẻ lĩnh hội được vốn từ vựng tiếng Việt, từ đó giúp trẻ biết giao tiếp bằng tiếng Việt phổ thông một cách tốt nhất. * Tạo môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt: - Tôi thường xuyên trò chuyện với trẻ thông qua các hoạt động ở mọi lúc mọi nơi về những chủ đề gần gũi trong cuộc sống. Khuyến khích trẻ tham gia trò chuyện với cô và các bạn. Ví dụ: Trong giờ điểm danh, ngoài thời gian điểm danh gọi tên trẻ tôi sẽ dành thêm thời gian để trò chuyện với trẻ về các vấn đề trong cuộc sống như: Hôm nay các con được ai đưa đi học? (mỗi trẻ trả lời bằng câu trả lời riêng: Cha, mẹ, ông, bà ..), Cha, mẹ các con ở nhà làm gì? ( Làm ruộng, bán hàng, ). Hoặc trong giờ hoạt động chơi ở các góc, khi phân vai cho trẻ thì tôi cũng đóng vai chơi cùng với trẻ, tôi đến từng góc chơi và chơi cùng trẻ, giao tiếp với trẻ: Cô mua cái gì? Cái này bao nhiêu tiền? Hôm nay cô nấu món gì?... giúp trẻ giao tiếp với cô và các bạn bằng ngôn ngữ tiếng Việt thường xuyên trong mọi hoạt động. Trong từng trường hợp tôi luôn chú ý sửa sai cho trẻ. - Tôi luôn mở rộng và tích cực hóa các thành phần giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt với trẻ, như mời các cô giáo, các bậc phụ huynh (những người biết tiếng Việt) đến trò chuyện, giao tiếp với trẻ để tạo cơ hội cho trẻ được nghe và nói. Ví dụ: Trong giờ sinh hoạt nhận xét bé ngoan cuối tuần, cô sẽ trò chuyện với trẻ. Sẽ đến và hỏi thăm trẻ, trò chuyện với trẻ một cách cởi mở, trẻ sẽ được giao tiếp trong môi trường tiếng Việt, được nghe và được nói sẽ mở rộng thêm được môi trường giao tiếp đối với trẻ. - Tôi đã tăng cường sử dụng các phương tiện hỗ trợ như: Internet, máy tính, để trẻ được nghe và phân biệt âm thanh từ các giọng khác nhau. Ví dụ: Cho trẻ nghe kể chuyện trên internet, cho trẻ nghe các bài hát trên loa, cho trẻ xem các mẫu chuyện hay trên máy tính, 8 - Tôi cũng đã tăng cường các hình thức mang tính chất cộng đồng, tập thể như: Chơi trò chơi, văn nghệ, tập làm lớp trưởng, để trẻ có cơ hội để thể hiện mình. Ví dụ: Cho trẻ tập làm lớp trưởng, khi lên làm lớp trưởng thì trẻ phải nói to, rõ ràng và điều hành được cả lớp trong một số hoạt động như: Hô cả lớp đứng nghiêm, cho cả lớp chơi trò chơi. Gọi 1-2 trẻ mạnh dạn lên trước sau đó khuyến khích những trẻ khác lên để được thể hiện mình giống bạn. Qua đó còn ( chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1). *Môi trường chữ viết: Ngoài ra tôi còn sưu tầm thêm các bài thơ, ca dao, đồng dao, các câu truyện dân gian mang đậm sắc thái văn hóa địa phương để đọc cho trẻ nghe, khuyến khích trẻ đọc theo và đọc thuộc những đoạn phù hợp từ đó kích thích trẻ giao tiếp và tự tin khi nói tiếng Việt. Nếu trẻ gặp khó khăn khi diễn đạt tôi gợi ý trẻ một vài từ, cố gắng để trẻ tự trình bày tiếng Việt bằng lời nói của mình. Do đặc điểm nhận thức của trẻ chủ yếu thông qua các hình ảnh trực quan, trẻ lĩnh hội và tiếp thu kiến thức chủ yếu thông qua hoạt động vui chơi. Chính vì vậy việc tạo môi trường để tổ chức hoạt động cho trẻ vô cùng quan trọng, một môi trường đẹp, phù hợp sẽ thu hút trẻ đến lớp, cũng như hứng thú tham gia vào các hoạt động một cách tích cực. Vì vậy, tôi cũng đầu tư xây dựng môi trường chữ viết tiếng Việt trong lớp học. Thông qua mảng chủ đề và các góc hoạt động ở mỗi chủ đề tôi cùng trẻ lựa chọn những tên gọi, hình ảnh linh hoạt, gần gũi với trẻ, phù hợp chủ đề, để minh họa, đồng thời khuyến khích trẻ cùng cô đặt tên và thay thế theo từng chủ đề. Tên gọi thường sử dụng là các chữ cái in thường để trẻ dễ nhận biết, như vậy sẽ thu hút được sự chú ý của trẻ, từ đó mục đích làm quen, ôn luyện chữ, cung cấp vốn từ đạt hiệu quả tối đa. Ví dụ: Đối với chủ đề "Gia đình" cô có thể trò chuyện, hỏi trẻ cách đặt tên chủ đề như: "Gia đình thân yêu của bé" hoặc "Tổ ấm gia đình"; Hay đối với góc phân vai ta có thể đặt là "Bé tập làm nội trợ" hoặc "Bé đi siêu thị". Nhưng sang chủ đề nghề nghiệp ta có thể đổi thành "Siêu thị mi ni" hoặc "Bé làm đầu bếp"... Ở đây trẻ được cung cấp thêm vốn từ như: Đầu bếp, nấu ăn, nội trợ... Từ các từ gần gũi quen thuộc đó đã kích thích trẻ ghi nhớ và phần nào hiểu được nghĩa của từ. Đồng thời trẻ có thể ghép các từ bằng các thẻ chữ cái để biết được số chữ và thứ tự các chữ trong từ. 9 Trò chuyện với trẻ về chủ đề Nhất là "góc thư viện" để giúp trẻ hoạt động trải nghiệm ngôn ngữ tiếng Việt một cách hứng thú tôi đã chuẩn bị nhiều loại tranh ảnh, sách báo, cây thư mục chữ cái, giỏ học chữ cái, hộp chữ cái, album sách, các sản phẩm của trẻ và các phương tiên học liệu khác như chì, sáp màu, băng hình, loa đài... sinh động hấp dẫn và luôn thay đổi theo từng chủ đề. Trẻ cùng bạn làm quen chữ cái Như vậy, qua mỗi chủ đề lại cung cấp cho trẻ nhiều từ mới để ôn luyện các chữ cái và rèn luyện kỹ năng tiền đọc, viết cho trẻ. Ở các góc chơi này tôi có thể tổ chức cho trẻ ôn tập các hoạt động học như: Khám phá khoa học, làm quen với toán, văn học và các hoạt động mọi lúc mọi nơi... Ví dụ: Qua bài thơ về các con vật, có thể cho trẻ chọn hình ảnh để lắp ghép tạo nên tranh, làm các động tác, mô phỏng tiếng kêu, ghép chữ cái tạo thành tên... hoặc dùng các hột hạt để xếp các chữ cái chữ số, tận dụng các loại lông các con vật 10 gần gũi như lông Gà, lông Vịt để xếp hình các con vật, đồ dùng, dụng cụ sinh hoạt hàng ngày. Tùy theo từng chủ đề tôi lựa chọn hình ảnh phù hợp, rõ ràng, đảm bảo thẩm mỹ, dưới mỗi hình ảnh còn có từ để trẻ làm quen. Tận dụng các giá đồ chơi, tủ đồ dùng cá nhân, đồ chơi, sách vở, ghế ngồi, ca uống nước...để gắn các chữ cái hoặc dán nhãn tên để chữ viết được xuất hiện trong mọi hoạt động, thường xuyên đọc các chữ để trẻ được tiếp xúc và thấy được mối quan hệ giữa lời nói và chữ viết. Ví dụ: Ở các góc lớp tôi đã sắp xếp các góc chơi và mỗi góc chơi đều có tên gọi như: Góc thư viện thì tôi đặt tên là: Bé kể chuyện sáng tạo. Góc âm nhạc tôi đặt tên là: Ca sĩ tí hon. Góc xây dựng tôi đặt tên là: Bé yêu xây dựng, Góc học tập thì có tên là: Ai thông minh nhanh trí. Góc nấu ăn tôi đặt tên là: Đầu bếp nhí., Tất cả những tên của các góc đó tôi đều viết bằng chữ cái in thường để cho các cháu 5 tuổi dễ nhận biết chữ và dễ tiếp xúc hơn trong quá trình học tập. - Tăng cường cho trẻ được tiếp xúc với chữ như đọc sách, truyện tranh, đọc họa báo, làm quen với các hoạt động “viết” như viết tên mình khi tập tô, - Khi sử dụng biện pháp này tôi nhận thấy trẻ rất tiến bộ và thích giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt hơn. 2.2.Biện pháp 2: Rèn kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ ở mọi hoạt động, mọi lúc mọi nơi. Đây là biện pháp rất tốt để trẻ học được các từ tiếng việt. Trong chương trình hoạt động một ngày trên lớp của trẻ gồm các hoạt động như: Đón trẻ, chơi tự chọn, thể dục sáng, hoạt động học, hoạt động ngoài trời, hoạt động ở các góc chơi, . Dựa trên cơ sở đó và đây cũng là một cơ hội để tôi đưa ra biện pháp dạy trẻ học từ vựng tiếng Việt giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt tốt hơn. Trong hoạt động chung: Ví dụ: - Trong chủ đề “Trường mầm non”, đầu tuần thứ hai tôi sẽ chọn các từ: “Con chào cô ạ”, “Mình chào bạn”, “Hôm nay con đi học” để dạy cho trẻ. Trên cơ sở những từ có kế hoạch dạy trẻ để trẻ được mở rộng một số từ khác đa dạng hơn. - Mục đích của việc cho trẻ làm quen với các câu này là giúp trẻ nghe, hiểu và nói các câu đơn giản một cách rõ ràng. Tôi cho trẻ xem tranh, chỉ vào tranh vẽ 11 trẻ đang chào cô và hỏi: Tranh vẽ gì đây các con? Trẻ trả lời là: Bạn đang chào cô. Vậy các con có biết chào cô như thế nào không? Trẻ trả lời: Con chào cô ạ! - Cho trẻ nhắc lại “ Con chào cô ạ” - Cho tổ, nhóm, cá nhân nhắc lại. - Cô đứng trước mặt 1 trẻ và nói: Mình chào bạn! - Cho trẻ nhắc lại “Mình chào bạn” - Cho trẻ lần lượt chào nhau. + Cô hỏi: Con chào bạn như thế nào? Trẻ trả lời: Mình chào bạn! - Cho trẻ trả lời và nhắc lại nhiều lần. - Tôi chỉ vào tranh khác và hỏi: Các bạn đi đâu? Trẻ trả lời: Các bạn đang đi học - Tôi lại hỏi: Còn con hôm nay đi đâu? Trẻ trả lời: Hôm nay con đi học. - Cho tổ, nhóm, cá nhân trẻ nhắc lại nhiều lần. Với biện pháp này giáo viên có thể xây dựng được rất nhiều vốn từ vựng tiếng việt mới cho trẻ làm quen và học. Mỗi ngày cho trẻ làm quen và học được từ mới rồi phát triển lên thành câu mới, ngoài ra trẻ còn được làm quen với một số từ khác như: Các bạn đang đi học, bạn đang chào cô, . Như vậy xuyên suốt quá trình học trên lớp trẻ sẽ có cơ hội học được khá nhiều vốn từ tiếng Việt mà giáo viên giảng dạy. Vì vậy khi dùng biện pháp này tôi nhận thấy đây là một cơ hội giúp tôi có biện pháp giúp các cháu phát triển ngôn ngữ tiếng Việt để có thể giao tiếp một cách thành thạo tiếng Việt. Hoạt động đón, trả trẻ: Cô Luôn động viên và nhắc trẻ chào cô giáo, bố mẹ và những người xung quanh, để đồ dùng cá nhân đúng nơi qui định, hỏi trẻ ai đưa con đi học, hôm nay ai đón con ( để kích thích trẻ nói tiếng phổ thông.) Ngoài ra, tôi thường tạo cơ hội cho trẻ được tiếp xúc với các đồ vật, sự vật hiên tượng và yêu cầu trẻ đưa ra những ý kiến của mình. Bởi vì ở giai đoạn này trẻ phát triển mạnh mẽ cả về ngôn ngữ và tư duy, hơn thế nữa trẻ thích thể hiện khả năng của bản thân trước mặt cô giáo và các bạn. 12 Giờ đón, trả trẻ Hoạt động góc: Khi trẻ chơi ở các nhánh như gia đình, bán hàng. Cô cho trẻ chơi giao lưu các góc với nhau và luôn nhắc trẻ nói tiếng phổ thông. Ví dụ : Cô đến bên trẻ hỏi con đang làm gì thế, cháu Nguyên trả lời bằng tiếng mẹ đẻ cô nhắc lại tiếng phổ thông con nói lại là con đang bế em, cô cho trẻ nhắc lại. Trẻ chơi hoạt động góc Hoạt động ngoài trời: Trẻ đang hứng thú tham gia quan sát ngôi nhà cô nhìn thấy cháu Duy đang không tập trung cô hỏi trẻ cháu sao vậy, cháu Duy trả lời cháu nhớ “ âu” cô nhắc trẻ nói lại là cháu nhớ cha bằng tiếng phổ thông .Ngoài ra ngoài sân tôi còn trồng thêm cây xanh xung quanh sân trường, cô gắng tên cây bằng tiếng Việt gây chú ý và gợi hỏi trẻ khi hoạt động ngoài trời. Hoạt động chơi (chiều ) : Các trẻ đang tham gia chơi trong lớp thì cháu Anh, Bo, Duy, đã tung những quả bóng bị rơi ra ngoài rổ ngay lúc đó có chị đi 13 qua các cháu liền gọi bằng tiếng dân tộc, lấy quả bóng cho em với. Tôi đến bên và nhắc trẻ phải nói là chị ơi lấy quả bóng cho em với và cho trẻ nhắc lại. Khi trẻ vào lớp cô nhắc trẻ dung tiếng phổ thông nói chuyện với nhau phải nói là em bằng tiếng phổ thông. Các con nhắc lại - Đây là biện pháp yêu cầu giáo viên luôn luôn phải quan sát và để ý đến trẻ. Nghĩa là trong mọi hoạt động của trẻ cô giáo đều phải chú ý quan tâm, nhắc nhở trẻ thường xuyên và rèn cho trẻ có thói quen giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt, tránh để trẻ giao tiếp lạm dụng bằng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ với nhau. Khi đó giáo viên có thể sửa sai cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi và ở mọi hoạt động. Ví dụ: Khi thấy các cháu giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ tôi sẽ nhắc nhở trẻ để trẻ nhận thấy việc giao tiếp bằng ngôn ngữ Việt phổ thông là việc cần thiết. Các con phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt vì khi các con đi ra ngoài xã hội các con phải nói bằng tiếng phổ thông thì tất cả mọi người mới hiểu các con nói gì và muốn gì. Nếu các con nói chuyện với nhau bằng tiếng dân tộc (tiếng mẹ đẻ) thì chỉ có những người dân tộc của các con mới hiểu, những người có dân tộc khác sẽ không hiểu được và họ sẽ không giúp gì cho các con được. Chính vì thế các con phải học nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt cho quen dần để sau này chúng ta giao tiếp dễ dàng hơn. - Tôi luôn chú ý lắng nghe trẻ phát âm và sửa sai cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Ví dụ: Khi thấy cháu Nguyên bị xước ở mặt tôi đã hỏi: Sao con lại bị xước ở mặt vậy? cháu Nguyên trả lời rất hồn nhiên: Con bị theo tiếng khmer theo ngôn ngữ mẹ đẻ của cháu. Tôi đã kịp thời hỏi các phụ huynh có mặt ở đó nghĩa từ cháu vừa nói và kịp thời sửa sai cho cháu bằng cách giải thích cho cháu hiểu là khi con nói bằng tiếng khmer còn khi con nói bằng tiếng việt thì con phải nói là “ngã”. Con phải nói là “Con bị ngã ở nhà”. Trong một tiết học vẽ, các cháu vẽ theo ý thích thì cháu Duy đang vẽ con Tôm, cháu Anh bên cạnh khi thấy tôi đi lại gần thì đã nói: Cô ơi bạn Duy đang vẽ con Tôm bằng tiếng Khmer. Từ đó tôi đã sửa sai cho cháu cũng bằng cách giải thích: Con nói như vây là tiếng Khmer, khi con nói bằng tiếng Việt thì con phải nói là “con Tôm” vì từ đấy trong tiếng dân tộc là “con Tôm” trong tiếng Việt. Cho cháu nói lại từ con Tôm. - Các cháu vùng dân tộc thiểu số phát âm và giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Khmer rất là hồn nhiên và bột phát, ở mọi hoạt động các cháu thích giao tiếp với nhau cho dễ hiểu và dễ chơi với nhau hơn, dần dần trở thành thói quen ngay cả khi các cháu đang ngồi trong lớp học, đang chơi với nhau ngoài xã hội. Chính vì thế giáo viên cần phải quan tâm để ý đến các cháu học sinh của mình ở mọi lúc mọi 14 nơi, luôn phải nhắc nhở trẻ một cách kịp thời trong mọi tình huống, sửa sai và hướng dẫn cho trẻ dần dần trẻ sẽ nhận thức được và trở thành thói quen tốt trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt.. Khi vốn từ tiếng việt của trẻ được tăng lên thì tôi dùng biện pháp, tạo hình thức thi đua ở mọi lúc mọi nơi. Lứa tuổi của trẻ đang còn rất ngây thơ và trong sáng, nhưng trẻ lại rất thích được thể hiện mình trước các bạn và các cô, chính vì thế tôi luôn tạo ra môi trường thi đua cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi để cho trẻ thể hiện khả năng của mình. Trên yêu cầu của cô là phải giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt. Ví dụ: Giờ tập làm lớp trưởng: Tôi cho cả lớp thi đua nhau ai hô tốt, nhớ trò chơi nhất thì được cắm cờ, thưởng kẹo, . Các cháu rất hào hứng và ai cũng muốn được thưởng nên các cháu lên thể hiện mình rất tốt. Ớ các giờ hoạt động khác cũng vậy, như giờ hoạt động học: Tôi khuyến khích trẻ giơ tay phát biểu ý kiến, khi đứng lên phát biểu ý kiến thì phải nói to, rõ ràng và nói đầy đủ câu, ai làm được như vậy thì tôi sẽ thưởng cắm cờ, bánh, kẹo, các cháu rất thích và thi đua nhau phát biểu để nhận thưởng. Ở bất cứ thời điểm nào tôi cũng đều tạo hình thức thi đua để cho trẻ thi đua nhau, biện pháp này áp dụng rất tốt giúp trẻ có khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt một cách có hiệu quả. -> Khi sử dụng biện pháp này đối với các cháu lớp tôi, tôi nhận thấy nó có ý nghĩa sát thực và các cháu có tiến bộ rõ rệt trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt phổ thông. Kể chuyện qua tranh, miêu tả sự vật, hiện tượng. Đây là một biện pháp rất thực tế và hấp dẫn trẻ, khi áp dụng biện pháp này đã cho hiệu quả cao trong phát triển kỹ năng nghe - nói; đặc biệt có ý nghĩa trong việc phát triển vốn từ và khả năng hội thoại trong giao tiếp. Biện pháp này tập trung vào sự trao đổi có ý nghĩa, thay vì dạy trẻ những âm thanh hay lặp lại những từ cụ thể, trẻ sẽ trao đổi về một thứ mà trẻ thích với cha mẹ, cô giáo, người thân hoặc bạn bè. Hay trẻ có thể xem tranh và kể thành một câu chuyện mà trẻ thích. Trong giờ đón hoặc trả trẻ, tôi thường tạo cơ hội cho trẻ được tiếp xúc với các đồ vật, sự vật hiên tượng và yêu cầu trẻ đưa ra những ý kiến của mình. Bởi vì ở giai đoạn này trẻ phát triển mạnh mẽ cả về ngôn ngữ và tư duy, hơn thế nữa trẻ thích thể hiện khả năng của bản thân trước mặt cô giáo và các bạn. Ví dụ: Trong hoạt động tìm hiểu về đồ dùng trong gia đình. Tôi cho trẻ tiếp xúc với các đồ dùng và trò chuyện gợi ý trẻ giới thiệu đồ dùng trẻ thích, trẻ có thể cầm "cái ly" và giới thiệu: Đây là cái ly mà mẹ đã mua cho em khi đi Siêu thị, nó 15 được làm bằng nhựa, nó có màu vàng rất đẹp, hằng ngày em thường dùng ly để uống nước và đánh răng. Chính vì vậy việc miêu tả sự vật, hiện tượng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng để phát triển sự phong phú đa dạng về ngôn ngữ cho trẻ. Mỗi trẻ có một cách nói khác nhau. Qua đó trẻ có cơ hội tưởng tượng rất phong phú và đa dạng, trẻ được nói lên ý hiểu của mình và nghe ý kiến của bạn, trẻ tích lũy được thêm nhiều vốn từ, trẻ tưởng tượng ra nhiều nội dung và trẻ trình bày nhiều mẫu câu, kiểu câu khác nhau... Kể chuyện theo tranh là phát huy tính sáng tạo cho trẻ, cô giới thiệu các bức tranh và giúp trẻ làm quen với các nhân vật, giúp trẻ khám phá những điều mới trong các bức tranh. Tổ chức cho các bé thảo luận nhóm để sáng tạo cho câu chuyện của mình. Trước tiên cần chuẩn bị một câu chuyện phù hợp có tranh minh họa đẹp, thu hút trẻ, cô giới thiệu các nhân vật trong tranh và kể câu chuyện theo thứ tự các bức tranh đó. Sau đó cô khuyến khích trẻ kể lại câu chuyện hoặc kể theo một cách khác mà trẻ hiểu, có thể đổi thứ tự các bức tranh theo sự sáng tạo của trẻ. Tùy theo khả năng của trẻ có thể không cần kể trước để tạo sự hứng thú và yêu cầu trẻ kể theo ý của mình, trẻ có thể dùng ngôn ngữ của mình để kể và đặt tên cho câu chuyện. Ảnh: Bé kể chuyện theo tranh Để có thể thực hiện hiệu quả cần phải chuẩn bị cho trẻ cách diễn đạt câu, cách hiểu vấn đề, cách nhập vai... Thông qua cách này sẽ giúp trẻ tự tin hơn khi rèn luyện cho trẻ tính sáng tạo và khả năng trình bày của mình trước đám đông, trẻ phát âm rõ ràng mạch lạc, vốn từ phong phú hơn. Trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về một sự vật hay sự kiện nào đó bằng chính ngôn ngữ của mình. 16 Trong một hoạt động "kể chuyện qua tranh" để phát triển kỹ năng tiền đọc, viết cho trẻ ta cần làm ba việc sau: - Một: Tổ chức cho trẻ xem tranh, vẽ tranh tương tự như học sinh có một văn bản để đọc. - Hai: Mô tả lại tranh tương tự như giúp học sinh đọc đúng tiếng và tìm hiểu từ ngữ bài học. - Ba: Sau mô tả tương tự như học sinh đã đọc đúng và hiểu ý nghĩa bài đọc. Kể chuyện qua tranh, giúp cho trẻ phát triển kỹ năng tiền đọc viết, năng lực tư duy, óc tưởng tượng sáng tạo, biết yêu cái đẹp, hướng tới cái đẹp, thông qua đó giúp cho trẻ dễ dàng hơn khi giao tiếp, học tập và vui chơi. Là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hóa. 2.3. Biện pháp 3: Dùng phương pháp sử dụng tiếng mẹ đẻ (tiếng Khmer ) để dạy tiếng Việt cho trẻ giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt tốt hơn. Đây là biện pháp đầu tiên tạo sự mạnh dạn, tự tin cho trẻ khi đến lớp. Tôi đã tạo cơ hội cho trẻ “nói, nói và nói” bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng Khmer) với các bạn trong lớp, với các bạn trong trường và mọi người xung quanh. Các chủ đề nói chuyện là những công việc, hoạt động diễn ra hàng ngày xung quanh trẻ như: Cách chào hỏi khi gặp người lớn, hàng ngày bố mẹ làm gì? Bản thân làm gì khi ở nhà, ở nhà có những con vật gì, cây cối xung quanh, thời tiết thế nào, . Trong quá trình nhận thức, khi được sử dụng tiếng mẹ đẻ , trẻ sẽ biết nhanh và chính xác hơn bản chất của các sự vật và hiện tượng, bởi vì trẻ hiểu được nghĩa trước khi học một khái niệm mới. Do vậy tôi đã đưa ra các chủ đề để hướng dẫn trò chuyện với trẻ bằng các loại câu hỏi mở để giúp trẻ lĩnh hội tốt và nhanh chóng hơn. Tuy nhiên khi sử dụng biện pháp này tuyệt đối giáo viên không được lạm dụng quá nhiều tiếng dân tộc để giao tiếp với trẻ mà cần phải nhận thức rõ: Chỉ dạy trẻ giao tiếp trong những trường hợp đặc biệt như: Trẻ chưa hiểu, trẻ không cảm nhận được khi giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt vì quá khó. Khi đó thì giáo viên được phép sử dụng tiếng khmer để dạy cho trẻ chứ không có nghĩa là lạm dụng tiếng khmer để giao tiếp với trẻ. Ví dụ 1: Khi trò chuyện với trẻ về chủ đề bản thân: Nhánh cơ thể bé. Tôi sẽ dùng hệ thống câu hỏi kích thích trẻ tìm kiếm và khám phá về bản chất của các bộ phận trên cơ thể. Tôi sẽ dùng tiếng mẹ đẻ để giải thích các câu hỏi cho trẻ, cho trẻ trả lời bằng tiếng mẹ đẻ sau đó tôi hỏi lại bằng tiếng việt phổ thông và cho trẻ trả lời bằng ngôn ngữ tiếng việt + Đây là cái gì? Trẻ trả lời: Đây là cái tay ạ, đây là cái chân ạ, 17 + Tay để làm gì? Trẻ sẽ trả lời: Tay để cầm, để nắm ạ, ) + Các con phải làm gì để bảo vệ đôi tay? Trẻ trả lời: Phải giữ vệ sinh sạch sẽ và rửa tay hàng ngày ạ!,.. - Câu hỏi giúp trẻ giải thích, suy đoán, phỏng đoán diễn biến : + Tại sao chúng ta phải bảo vệ đôi tay? + Điều gì sẽ sảy ra khi không có đôi tay trên cơ thể? - Câu hỏi giúp trẻ đánh giá đối tượng mà trẻ nhận thức: + Theo con tay dùng để nghịch đất, nghịch bẩn là tốt hay xấu? vì sao? Ví dụ 2: - Cho trẻ nghe và kể lại các câu chuyện, bài thơ, bài hát trong chương trình. Trước tiên tôi đã tóm tắt lại nội dung câu chuyện, bài thơ, bài hát cho trẻ hiểu bằng tiếng mẹ đẻ sau đó tôi nói lại cho trẻ nghe và kể lại bằng tiếng việt. (nếu giáo viên không biết tiếng dân tộc thiểu số thì có thể nhờ giáo viên khác biết tiếng hoặc phụ huynh học sinh hỗ trợ cho mình, công nghệ hỗ trợ). Sau đó cho trẻ kể lại, đọc lại và hát lại bằng tiếng việt phổ thông, tôi sẽ chú ý lắng nghe và sửa sai cho trẻ. Ví dụ 3: Dạy cho trẻ hát bài hát “Cái mũi” trong chủ đề bản thân. Trước tiên tôi hát cho trẻ nghe, sau đó thay vì việc giảng nội dung bằng ngôn ngữ tiếng việt trước tôi tóm tắt nội dung bằng tiếng mẹ đẻ của các cháu cho các cháu hiểu nội dung bài hát rồi mới tiếp tục hát và giảng nội dung để đàm thoại với các cháu. Và khi đàm thoại về nội dung bài hát Cái mũi tôi cũng phải dùng tiếng mẹ đẻ để giải thích câu hỏi trước cho trẻ nắm được sau đó trẻ sẽ trả lời và tôi chú ý sửa sai cho trẻ. -> Dùng biện pháp này tôi nhận thấy các cháu lĩnh hội được kiến thức rất nhanh và giao tiếp bằng tiếng việt cũng được phát triển lên một cách rõ rệt. 2.4. Biện pháp 4: Sử dụng các trò chơi để giúp trẻ hứng thú giao tiếp bằng tiếng Việt phổ thông. Nắm được tâm lí của trẻ là học bằng chơi và chơi mà học luôn mang lại hứng thú cho trẻ, chính vì thế tôi dùng biện pháp sử dụng các trò chơi để giúp trẻ giao tiếp bằng tiếng Việt. Có rất nhiều các trò chơi trong chương trình được tôi áp dụng như: Trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi âm nhạc, trò chơi với chữ cái, Cách phổ biến luật chơi và cách chơi mà cô đưa ra phải xúc tích và dễ hiểu, không quá lan man khiến trẻ khó hiểu và không hiểu. Trong trường hợp cách chơi và luật chơi quá khó khi tiếp thu bằng tiếng Việt thì cô giáo phải giải thích bằng tiếng dân tộc thiểu số giúp trẻ hiểu sau đó mới chuyển sang sửdụng tiếng Việt và cho trẻ chơi trên cơ sở hoàn toàn bằng ngôn ngữ tiếng Việt. Trong chương trình dành cho lứa tuổi 5- 6 tuổi có rất nhiều các trò chơi bổ ích ví dụ như: Quyển “Tuyển tập những 18 trò chơi, câu đố, thơ, truyện, hát theo chủ đề dành cho trẻ 5- 6 tuổi” chẳng hạn, có khá nhiều trò chơi theo từng chủ đề là những trò chơi học tập, trò chơi vận động,... Tất cả những trò chơi đó đều có thể sử dụng để cung cấp ngôn ngữ tiếng Việt cho các cháu. Ngoài ra tôi còn có thể sưu tầm thêm các trò chơi khác ngoài chương trình mà phù hợp với lứa tuổi và nhận thức của các cháu để cho các cháu chơi nhằm mục đích giúp các cháu phát triển được ngôn ngữ tiếng Việt để có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt một cách lưu loát. Ví dụ 1: - Cho trẻ chơi trò chơi “Thi xem ai nói đúng” trong chủ đề thực vật. Cách chơi trò chơi này là khi trẻ nhận được các lô tô hình ảnh từ cô đưa sang thì trẻ phải nói được tên loại thực vật và đặc diểm của chúng. Mục đích của trò chơi là củng cố vốn từ cho trẻ, rèn trí nhớ và khả năng nhanh nhạy của trẻ. Cụ thể như sau: + Đưa lô tô hình ảnh cho cháu Thuởng và nói: + “Cà rốt”, cháu Thưởng trả lời: “Củ cà rốt màu cam”. + Đưa lô tô hình ảnh cho cháu Nguyên và nói: “ Hoa Hồng”, cháu Nguyên trả lời: “Hoa hồng có gai mùi thơm”. + Đưa lô tô hình ảnh cho cháu Hoàng và nói: “ Cà chua”, cháu Hoàng trả lời: “ Quả cà chua màu đỏ”. + Đưa lô tô hình ảnh cho cháu Mẫn và nói: “Hoa cúc”, cháu Mẫn trả lời: “Hoa cúc màu vàng, mùi thơm” - Sau đó tôi sẽ yêu cầu ngược lại với trẻ. Tôi nói hoa, quả thì trẻ phải kể được tên một số loại hoa, quả mà trẻ được biết. Ví dụ 2: Ảnh trẻ chơi tung bóng cùng bạn 19
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_tang_cuong_tieng_viet_cho_tre_dan_toc_khmer.docx
