Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi lớp B1, trường Mầm non Tam Tiến

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”

Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước. Là tài sản vô giá, là những mầm xanh hy vọng của mỗi gia đình và của toàn xã hội.

Chương trình giáo dục nhà trẻ với mục tiêu nhằm giúp trẻ phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và thẩm mĩ.

Chính vì vậy mà song song với công tác giáo dục trẻ, thì công tác chăm sóc trẻ cũng là một nhiệm vụ quan trọng của chương trình giáo dục mầm non. Đặc biệt là với trẻ em lứa tuổi nhà trẻ: Lứa tuổi mà các cháu mới chỉ tập làm quen với các hoạt động tự phục vụ, còn lại tất cả mọi sinh hoạt đều phải có sự hướng dẫn và giúp đỡ của người lớn.

Là một giáo viên mầm non, được phân công giảng dạy tại nhóm trẻ 24 – 36 tháng B1 trường Mầm non Tam Tiến. Tôi mang đến cho trẻ hành trang kiến thức cùng với sự thành tâm thiện ý của mình, mong muốn cho các cháu được thật sự là những chiếc búp non trên cành, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt nhất để phát triển, lớn lên thành những thân cây mạnh khỏe, tươi tốt như lời Bác Hồ kính yêu đã dạy:

“Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan.”

(Hồ Chí Minh)

Học tập và làm theo lời Bác dạy, tôi luôn có một tình yêu thương, niềm đam mê, khao khát, cũng như mong muốn các cháu có một thể lực, trí lực tốt nhất để đáp ứng mục tiêu của chương trình giáo dục nhà trẻ, chăm sóc giáo dục các cháu, để các cháu được ăn, ngủ, học hành, vui chơi…trong vòng tay yêu thương của cô giáo.

docx15 trang | Chia sẻ: LANG LANG | Ngày: 28/02/2026 | Lượt xem: 11 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi lớp B1, trường Mầm non Tam Tiến, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
 “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”
 Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước. Là tài sản vô giá, là những mầm 
xanh hy vọng của mỗi gia đình và của toàn xã hội.
 Chương trình giáo dục nhà trẻ với mục tiêu nhằm giúp trẻ phát triển hài 
hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và thẩm mĩ.
 Chính vì vậy mà song song với công tác giáo dục trẻ, thì công tác chăm 
sóc trẻ cũng là một nhiệm vụ quan trọng của chương trình giáo dục mầm non. 
Đặc biệt là với trẻ em lứa tuổi nhà trẻ: Lứa tuổi mà các cháu mới chỉ tập làm 
quen với các hoạt động tự phục vụ, còn lại tất cả mọi sinh hoạt đều phải có sự 
hướng dẫn và giúp đỡ của người lớn.
 Là một giáo viên mầm non, được phân công giảng dạy tại nhóm trẻ 24 – 
 36 tháng B1 trường Mầm non Tam Tiến. Tôi mang đến cho trẻ hành trang kiến 
 thức cùng với sự thành tâm thiện ý của mình, mong muốn cho các cháu được 
 thật sự là những chiếc búp non trên cành, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt nhất 
 để phát triển, lớn lên thành những thân cây mạnh khỏe, tươi tốt như lời Bác Hồ 
 kính yêu đã dạy:
 “Trẻ em như búp trên cành
 Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan.”
 (Hồ Chí Minh)
 Học tập và làm theo lời Bác dạy, tôi luôn có một tình yêu thương, niềm 
 đam mê, khao khát, cũng như mong muốn các cháu có một thể lực, trí lực tốt 
 nhất để đáp ứng mục tiêu của chương trình giáo dục nhà trẻ, chăm sóc giáo dục 
 các cháu, để các cháu được ăn, ngủ, học hành, vui chơi trong vòng tay yêu 
 thương của cô giáo. 
 Bởi thời gian ở bên cô hàng ngày là rất lớn, bất cứ một sự lơ là, thiếu quan 
 tâm nào của cô cũng có thể làm trẻ bị tổn thương hoặc thiếu an toàn cho trẻ, dẫn 
 đến những hậu quả đau lòng không lường trước được, mà đâu đó chúng ta vẫn 
 thấy trong cuộc sống, trên báo trí, hay các phương tiện truyền thanh, truyền hình.
 Với sự thành tâm thiện trí của mình, cùng với mong muốn được đóng góp 
một phần kiến thức kỹ năng trong chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, thế hệ tương lai của 
đất nước, tôi đã xây dựng và áp dụng đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất 
lượng công tác nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi lớp B1, 
trường Mầm non Tam Tiến” nhằm hướng đến mục tiêu của chương trình giáo dục 2
nhà trẻ, tạo cho trẻ có cảm giác an toàn về thể chất và tinh thần; tạo điều kiện 
thuận lợi cho trẻ được tích cực hoạt động giao lưu cảm xúc, kích thích sự phát 
triển các giác quan và các chức năng tâm sinh lí; tạo môi trường giáo dục gần 
gũi với khung cảnh gia đình, giúp trẻ thích nghi với nhà trẻ.
 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 1. Thực trạng tổ chức công tác nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe trẻ nhà 
trẻ 24 - 36 tháng lớp B1, trường Mầm non Tam Tiến
 1.1. Ưu điểm
 Nhà trường luôn được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, chính quyền các 
cấp; sở Giáo dục Đào tạo tỉnh Bắc Giang, phòng Giáo dục Đào tạo Huyện Yên 
Thế, UBND xã Tam Tiến đến bậc học mầm non, đặc biệt là trẻ em lứa tuổi nhà 
trẻ trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ.
 Song song với công tác giáo dục thì công tác nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ được 
đồng chí Hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng xây dựng và giám sát chu đáo, chặt chẽ từ 
khâu xây dựng kế hoạch, tính toán khẩu phần, nguồn cung cấp, giao nhận, chế biến 
thực phẩm, đến công tác chia ăn, chăm sóc toàn diện bữa ăn giấc ngủ, vệ sinh 
cho trẻ đều được thực hiện thường xuyên, có nề nếp và trách nhiệm.
 Trẻ nhà trẻ với chế độ dinh dưỡng hợp lý, đáp ứng 65% Kcal trong 1 ngày 
của trẻ với 2 bữa chính và một bữa phụ. Trẻ luôn được đảm bảo an toàn tuyệt 
đối về thể chất và tinh thần khi đến lớp
 Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có tinh 
thần trách nhiệm với công việc, luôn quan tâm, giúp đỡ đồng nghiệp cùng nhau 
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
 Ngoài ra nhóm lớp còn nhận được sự quan tâm, niềm tin yêu và ủng hộ 
của các bậc phụ huynh đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ.
 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
 1.2.1. Trẻ em
 a. Tồn tại, hạn chế 
Làm quen với môi trường mới trẻ còn lạ lẫm với cô, với bạn. Đa số trẻ còn nhút 
nhát, thậm trí trẻ còn sợ sệt khi được ông bà, bố mẹ đưa đến lớp
 Chế độ thích nghi của trẻ khác nhau có những trẻ thì nhanh chóng thích 
nghi với các món ăn ở trường, ngược lại có nhiều trẻ còn chưa thích nghi với các 
món ăn tại trường do chế độ ăn của trẻ ở mỗi gia đình là khác nhau.
 b. Nguyên nhân
 Do môi trường sinh hoạt, vui chơi học tập của trẻ có sự thay đổi 3
 1.2.2. Phụ huynh 
 a. Tồn tại, hạn chế 
 Phần lớn phụ huynh đi làm xa nhà, nên trẻ ít được gần gũi, hay nhận được 
sự quan tâm chăm sóc trực tiếp từ bố mẹ, dẫn đến nhu cầu muốn gần gũi bố mẹ 
của trẻ là rất lớn. Mỗi khi bố mẹ về trẻ thường không muốn đến lớp, hoặc khóc 
nhiều khi được bố mẹ đưa đi học.
 Tuổi đời của phụ huynh còn ít, đa số trẻ là con đầu lòng nên kiến thức 
nuôi dạy trẻ còn hạn chế.
 b. Nguyên nhân
 Phần lớn cha mẹ trẻ là lao động tự do, lại còn trẻ nên thiếu kinh nghiệm 
trong việc nuôi dạy trẻ
 2. Biện pháp thực hiện
 2.1. Biện pháp 1: Tạo sự gần gũi, gắn kết, giao lưu cảm xúc giữa cô và trẻ
 2.1.1. Nội dung biện pháp
 Tạo sự gần gũi với trẻ, thông qua quá trình giao lưu cảm xúc giữa cô và trẻ
 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 Với mỗi đứa trẻ sẽ có một tính cách, một hoàn cảnh sống, sở thích và đặc 
điểm tâm lý khác nhau: Có trẻ nhút nhát, có trẻ mạnh dạn vì vậy tôi luôn chủ 
động tìm hiểu nắm bắt tâm lý, hoàn cảnh sống, tính cách và sở thích của học 
sinh để từ đó có cách thức gần gũi, giao lưu cảm xúc với trẻ bằng sự thành tâm 
thiện trí, bằng tình yêu thương của một người mẹ, tạo cho trẻ sự an toàn, niềm 
vui, tin tưởng khi đến lớp.
 * Đón trẻ với tâm thế vui tươi, thoải mái, tạo cho trẻ cảm giác gần gũi, an toàn
 Hình ảnh: Cô giáo đón trẻ 4
* Giao lưu cảm xúc với trẻ, tạo hứng thú cho theo phương châm “chơi bằng học, 
học bằng chơi”
 Hình ảnh: Cô giao lưu cảm xúc, giáo dục trẻ qua các trò chơi
 Cùng tham gia các hoạt động với trẻ để tăng sự tương tác, giao lưu cảm 
xúc giữa cô và trẻ. Tạo cho trẻ cảm giác an toàn, gần gũi cô giáo và các bạn cô, 
trẻ yêu thích đi học. 
 3.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp
 Bằng sự tâm huyết, quan tâm và yêu thương trẻ như chính con của mình bản 
thân tôi đã nhanh chóng dành được sự tin tưởng, tình yêu thương của trẻ dành lại 
cho mình, trẻ đến lớp ngoan hơn, biết yêu cô giáo và các bạn. Đây là cơ sở, là tiền 
đề để tôi có thể thực hiện tốt các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ 
trong lớp của mình và xây dựng một môi trường lớp học thân thiện, an toàn, giàu 
tình yêu thương, chia sẻ. 5
 3.2. Biện pháp 2: Nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhà trẻ 24 - 
36 tháng lớp B1, trường Mầm non Tam Tiến trong các chế độ sinh hoạt hàng 
ngày.
 3.2.1. Nội dung của biện pháp
 Nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các chế độ sinh hoạt hàng ngày 
như: Tổ chức ăn, ngủ, vệ sinh và chăm sóc sức khỏe cho trẻ tại lớp
 3.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 * Tổ chức ăn:
 - Trước khi ăn: Cô bài trí bàn ăn, món ăn đẹp mắt, hấp dẫn tạo sự hứng thú cho 
trẻ, chuẩn bị bát, thìa, khăn, cốc, đĩa đựng cơm rơi, Cho trẻ ngồi vào bàn, mỗi 
bàn từ 6 đến 8 trẻ.
 - Trong khi ăn:
 + Cô giới thiệu các món ăn để trẻ nhận biết về một số món ăn cũng như 
tạo hứng thú cho trẻ ăn ngon miệng.
 + Cô giáo hướng dẫn cho cầm thìa bằng tay phải, xúc cơm và giúp đỡ trẻ.
 + Trẻ ăn chậm, cô cho trẻ ngồi riêng để cô dễ bao quát, nhắc nhở, kích lệ 
trẻ ăn hết xuất.
 + Bao quát trẻ, cần chú ý đề phòng trẻ bị hóc, sặc
 - Sau khi trẻ ăn xong: cô nhắc trẻ cất bát, thìa vào nơi quy định, lau 
miệng, lau tay, đi vệ sinh và vào phòng ngủ
 Một số hình ảnh tổ chức, chăm sóc bữa ăn cho trẻ: 6
Cô bài trí bàn ăn, món ăn đẹp mắt, hấp dẫn tạo sự hứng thú cho trẻ trước khi ăn.
 Khẩu phần ăn được chia ngay và chia đều cho từng trẻ, nhằm đảm bảo 
 chất lượng cũng như số lượng của mỗi xuất ăn 7
 Tâm thế thoải mái, hợp tác của trẻ trong giờ ăn.
 Thích nghi được với chế độ ăn cơm và biết cầm thìa xúc ăn bằng tay phải
 * Tổ chức ngủ: Trẻ thực hiện ngủ 1 giấc buổi trưa
 - Trước giờ đi ngủ: Trước khi ngủ cô cho trẻ đi vệ sinh, cởi bớt quần áo 
dài hay dày quá để trẻ được thoải mái và dễ ngủ hơn. Cô hát ru hoặc mở nhạc du 
dương cho trẻ nghe để cho trẻ ngủ nhanh hơn và say hơn. 8
 - Trẻ ngủ tôi bao quát, đắp lại chăn cho trẻ nếu trẻ đạp ra, khâu những chỗ 
chăn bục bật (nếu có). Trẻ ngủ say tôi để quạt mát vừa đủ (nếu thời tiết mùa hè)
 Hình ảnh: Trẻ ngủ 1 giấc ngủ buổi trưa 
 - Sau khi trẻ thức dậy:
 Nếu trời lạnh cô mặc quần áo ấm vào cho trẻ. Cô nhắc nhở trẻ cất gối, cho 
trẻ đi vệ sinh, chải đầu buộc tóc cho trẻ.
 * Vệ sinh
 - Vệ sinh cá nhân: Rèn cho trẻ thói quen vệ sinh sạch sẽ như rửa mặt, rửa 
tay bằng xà phòng với nước sạch theo các bước, và thói quen đi vệ sinh đúng 
nơi quy định. 9
 Trẻ được thao tác rửa tay theo 6 bước cô hướng dẫn
 - Vệ sinh môi trường: Thường xuyên vệ sinh đồ dùng, đồ chơi; vệ sinh 
phòng nhóm; xử lí rác, nước thải định kỳ theo lịch vệ sinh hàng ngày, tuần, 
tháng đảm bảo phòng chống dịch bệnh 
 Công tác khử khuẩn, phun thuốc muỗi để phòng trách các loại bệnh 
truyền nhiễm như cúm, sốt xuất huyết được thực hiện đều đặn.
 Hình ảnh: Bình ủ nước ầm để cho trẻ uống vào mùa đông và nước lọc để trẻ 
 uống vào mùa hè 10
Môi trường lớp học được vệ sinh sạch sẽ 11
 Phun thuốc muỗi phòng chống dịch bệnh
 * Chăm sóc sức khỏe và an toàn
 - Phối hợp với y tế nhà trường, y tế xã kiểm tra sức khỏe cho trẻ ít nhất 1 
lần/năm; theo dõi, đánh giá sự phát triển trẻ theo biểu đồ tăng trưởng, nhập vào 
cơ sở dữ liệu của ngành
 Hình ảnh: Kiểm tra sức khỏe định kỳ cho trẻ 12
 3.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp
 Sau thời gian tiến hành thực hiện các biện pháp trên, trẻ của lớp của tôi đã 
có những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe trẻ 24 - 
36 tháng tuổi. Dưới đây là bảng minh chứng mà trẻ lớp tôi đã đạt được:
 Bảng so sánh kết quả sau khi áp dụng biện pháp:
 Trước khi áp 
 Sau khi áp dụng
 dụng Tỷ lệ 
 TT Nội dung
 Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ tăng (%)
 lượng (%) lượng (%)
 Thích nghi với chế độ ăn 
 cơm, ăn được đa dạng 
 1 10/16 62,5 16 100 37,5
 nhiều loại thức ăn khác 
 nhau.
 Đi vệ sinh đúng nơi qui 
 2 11/16 68,8 16 100 31,2
 định.
 Trẻ biết thực hiên thói quen 
 3 9/16 56,3 16 100 43,7
 ngủ 1 giấc buổi trưa.
 Trẻ biết thực hiện được 
 một số việc với sự giúp đỡ 
 4 của người lớn (lấy nước 10/16 62,5 16 100 37,5
 uống, biết cầm thìa xúc ăn 
 bằng tay phải 
 3.3. Biện pháp 3: Kết hợp với phụ huynh nâng cao chất lượng công tác nuôi 
dưỡng và chăm sóc sức khỏe trẻ 24 - 36 tháng tuổi lớp nhà trẻ B1
 3.3.1. Nội dung biện pháp
 Đa dạng các hình thức chia sẻ, phối hợp như trao đổi trực tiếp thông qua giờ 
đón, trả trẻ; qua mạng xã hội để giúp phụ huynh biết cách phòng chống các bệnh 
truyền nhiễm, đảm bảo an toàn cho trẻ khi tham gia giao thông, trao đổi tìm cách 
hạn chế một số khó khăn trong quá trình chăm sóc trẻ tại nhóm lớp.
 3.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 * Trao đổi chia sẻ với các bậc phụ huynh về một số khó khăn trong công 
tác nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho trẻ tại nhóm lớp, cũng như tuyên truyền 
đến các bậc phụ huynh về kiến thức nuôi dạy trẻ, cách phòng chống các bệnh 
truyền nhiễm, đảm bảo an toàn cho trẻ khi tham gia giao thông 
 Tập cho trẻ thích nghi với chế độ ăn cơm và các loại thức ăn khác nhau. 13
 Cô giáo trao đổi với phụ huynh trong giờ đón trẻ
 * Nâng cao chất lượng công tác nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe trẻ trong 
nhóm lớp các bậc phụ huynh xin ý kiến của Ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm để 
lắp bình nóng lạnh để phục vụ công tác vệ sinh chăm sóc sức khỏe cho trẻ
 Phụ huynh lắp bình nóng lạnh để cô chăm sóc sức khỏe cho trẻ tốt hơn 14
 3.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp
 Với những cách làm trên, các bậc phụ huynh đã có sự đồng cảm, thấu hiểu 
cô hơn, chủ động chia sẻ, phối hợp với cô giáo trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, 
giáo dục trẻ cũng như biết cách phòng chống các bệnh truyền nhiễm, đảm bảo an 
toàn cho trẻ khi tham gia giao thông.
 PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP
 Sau khi xây dựng và áp dụng đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng 
công tác nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi lớp B1, 
trường Mầm non Tam Tiến” tôi đã đạt được các chỉ số kết quả như sau: 
 - Một số trẻ từ chưa thích nghi được với chế độ ăn cơm thì nay đã thích 
nghi với chế độ ăn cơm, ăn được các loại thức ăn khác nhau. 
 - Trẻ từ chưa có nề nếp, thói quen tự phục vụ đến nay đã biết thực hiện 
được một số việc với sự giúp đỡ của người lớn (lấy nước uống, biết cầm thìa 
xúc ăn bằng tay phải ) 
 - Trẻ biết thực hiên thói quen ngủ 1 giấc buổi trưa 
 - Phụ huynh cùng phối hợp với nhà trường lắp bình nóng lạnh để phục vụ 
công tác vệ sinh chăm sóc sức khỏe cho trẻ cũng như được trang bị kiến thức 
về thức nuôi dạy trẻ, cách phòng chống các bệnh truyền nhiễm, đảm bảo an 
toàn cho trẻ khi tham gia giao thông 
 Một số tài liệu tôi đã sử dụng: 
 Chương trình Giáo dục mầm non.
 Tiêu chí đánh giá trẻ độ tuổi nhà trẻ 24 -36 tháng tuổi.
 Bài tuyên truyền về công tác nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe trẻ 24 - 36 
tháng tuổi
 Mạng Internet.
 Công văn: 1449/SGDĐT-GDMN của Sở GD&ĐT bắc Giang ngày 18 
tháng 11 năm 2020 về việc nâng cao chất lượng tổ chức và quản lý công tác 
Bán trú trong các cơ sở GDMN 15
PHẦN D. CAM KẾT
 Tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; không sử dụng biện 
pháp đã được đề xuất để xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân trước đó; các 
biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của trẻ 
em tại lớp Nhà trẻ 24-36 tháng tuổi B1 là trung thực.
 Tam Tiến, ngày 12 tháng 12 năm 2024
 GIÁO VIÊN
 Trần Thị Thanh
 PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG
 1. Đánh giá, nhận xét của tổ chuyên môn
 .
 ..
 TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN
 Phạm Thị Vân Anh
 2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng
 .
 ..
 HIỆU TRƯỞNG
 (Ký, đóng dấu)
 Nguyễn Thị Quyên

File đính kèm:

  • docxmot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_cong_tac_nuoi_duong_va.docx
Giáo Án Liên Quan