Biện pháp giáo dục kĩ năng bảo vệ an toàn bản thân cho trẻ lớp 4-5 tuổi B1

Ngày nay, cuộc sống ngày càng phát triển, mỗi gia đình thường chỉ có 1 đến 2 con. Vì vậy, các bậc phụ huynh luôn có tâm lý bao bọc, nuông chiều con, điều đó dẫn đến trẻ rất thụ động. Trẻ không có kĩ năng tự chăm sóc và bảo vệ an toàn bản thân hay kĩ năng ứng xử phù hợp khi tiếp xúc với môi trường xung quanh.

Trên thực tế, môi trường xung quanh trẻ tiềm ẩn rất nhiều mối nguy hiểm: cháy nổ, bắt cóc, trẻ bị lạc… mà các bậc cha mẹ, Người lớn không phải lúc nào cũng có mặt ở bên để che chở, bao bọc, giúp đỡ, xử lý tình huống thay trẻ được, việc hình thành cho trẻ kĩ năng nhận biết và phòng tránh một số trường hợp không an toàn giúp trẻ bảo vệ bản thân là vô cùng cần thiết.

Khi trẻ có kĩ năng, trẻ biết cách xử lý an toàn và hiệu quả với tình huống mà trẻ gặp phải.Điều này tốt cho bản thân trẻ, đồng thời cũng giảm bớt áp lực cho người chăm sóc trẻ như bố, mẹ, cô giáo…

Đầu năm học 2024-2025, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 4-5 tuổi B1, tôi nhận thấy hầu hết trẻ trong lớp đã cơ bản nhận biết được những dấu hiệu, nguy cơ không an toàn với bản thân trẻ.Tuy nhiên, ít trẻ có kĩ năng xử lý các tình huống không an toàn đó khi gặp phải để bảo vệ bản thân mình.

doc15 trang | Chia sẻ: LANG LANG | Ngày: 28/02/2026 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biện pháp giáo dục kĩ năng bảo vệ an toàn bản thân cho trẻ lớp 4-5 tuổi B1, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 0
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN YÊN THẾ
 TRƯỜNG MẦM NON TAM TIẾN
 ******
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP 
THAM DỰ HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP 
 TRƯỜNG CHU KỲ 2024-2025
Tên biện pháp: “Biện pháp giáo dục kĩ năng bảo vệ
 an toàn bản thân cho trẻ lớp 4-5 tuổi B1”
 Họ và tên: Trần Thị Thanh Hương
 Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm mầm non
 Đối tượng giảng dạy: Lớp 4B1
 Chức vụ: Giáo viên
 Tam Tiến, ngày 04 tháng 10 năm 2024 1
 1. Lý do hình thành biện pháp
 Ngày nay, cuộc sống ngày càng phát triển, mỗi gia đình thường chỉ có 1 
đến 2 con. Vì vậy, các bậc phụ huynh luôn có tâm lý bao bọc, nuông chiều con, 
điều đó dẫn đến trẻ rất thụ động. Trẻ không có kĩ năng tự chăm sóc và bảo vệ an 
toàn bản thân hay kĩ năng ứng xử phù hợp khi tiếp xúc với môi trường xung 
quanh.
 Trên thực tế, môi trường xung quanh trẻ tiềm ẩn rất nhiều mối nguy hiểm: 
cháy nổ, bắt cóc, trẻ bị lạc mà các bậc cha mẹ, Người lớn không phải lúc nào 
cũng có mặt ở bên để che chở, bao bọc, giúp đỡ, xử lý tình huống thay trẻ được, 
việc hình thành cho trẻ kĩ năng nhận biết và phòng tránh một số trường hợp 
không an toàn giúp trẻ bảo vệ bản thân là vô cùng cần thiết.
 Khi trẻ có kĩ năng, trẻ biết cách xử lý an toàn và hiệu quả với tình huống 
mà trẻ gặp phải.Điều này tốt cho bản thân trẻ, đồng thời cũng giảm bớt áp lực 
cho người chăm sóc trẻ như bố, mẹ, cô giáo 
 Đầu năm học 2024-2025, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 4-5 tuổi B1, 
tôi nhận thấy hầu hết trẻ trong lớp đã cơ bản nhận biết được những dấu hiệu, 
nguy cơ không an toàn với bản thân trẻ.Tuy nhiên, ít trẻ có kĩ năng xử lý các 
tình huống không an toàn đó khi gặp phải để bảo vệ bản thân mình.
 Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn biện pháp: “Biện pháp giáo 
dục kĩ năng tự bảo vệ an toàn bản thân cho trẻ lớp 4-5 tuổi B1”.
 2. Thực trạng công tác giáo dục kĩ năng tự bảo bảo vệ an toàn bản 
thân cho trẻ tại lớp 4-5 tuổi B1
 2.1. Ưu điểm 
 * Giáo viên 
 - Bản thân là giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm, có trình độ chuyên 
môn nghiệp vụ, yêu nghề, mến trẻ, luôn nỗ lực học hỏi từ đồng nghiệp ,từ tài 
liệu ,từ mạng xã hội 
 * Học sinh 
 - Trẻ của lớp nhanh nhẹn, ngoan ngoãn, nhận thức tương đối đồng đều 
hợp tác với cô trong các hoạt động trên lớp.
 *Phụ huynh
- Phụ huynh luôn tin tưởng sát cánh phối kết hợp với giáo viên trong công tác 
chăm sóc và giáo dục trẻ.
 *Nhà trường 2
Trường mầm non Tam Tiến có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, theo 
quy định, phục vụ quá trình dạy hoạt động của giáo viên,học sinh
 Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, tạo điều kiện bồi dưỡng về chuyên 
môn cho đội ngũ giáo viên
2.2. Hạn chế và nguyên nhân
 2.2.1. Về phía giáo viên
 - Việc giáo dục trẻ kĩ năng tự bảo vệ an toàn cho trẻ còn chưa thường 
xuyên, thiếu sự khoa học, chủ yếu là cung cấp kiến thức mà chưa cho trẻ thực 
hành, trải nghiệm.
 - Nguyên nhân: do giáo viên chưa có kế hoạch giáo dục trẻ một cách cụ 
thể và thường xuyên.
 2.2.2. Về phía trẻ
 - Trẻ còn thụ động, chưa có kĩ năng xử lý những tình huống nguy hiểm 
khi gặp phải.
 - Nguyên nhân: 
 + Do tuổi của trẻ còn nhỏ.
 + Do ở nhà được bố mẹ, ông bà nuông chiều, bao bọc.
 + Do kiến thức cung cấp cho trẻ chủ yếu lý thuyết, trẻ ít được thực hành, 
trải nghiệm các tình huống thực tế.
 2.2.3. Về phía phụ huynh:
 - Phụ huynh chưa dạy cho trẻ các kĩ năng cần thiết về bảo vệ an toàn bản 
thân khi ở nhà.
 - Nguyên nhân: 
 + Phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện các 
kĩ năng tự bảo vệ an toàn bản thân cho trẻ.
 + Do đặc thù công việc phụ huynh đi làm công ty ít có thời gian để cùng 
con học, cùng con thực hành. 
 2.2.4. Về phía nhà trường 
Trường mầm non Tam Tiến có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, theo 
quy định, phục vụ quá trình dạy hoạt động của giáo viên,học sinh
 Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, tạo điều kiện bồi dưỡng về chuyên 
môn cho đội ngũ giáo viên. 3
 3. Biện pháp giáo dục kĩ năng tự bảo vệ an toàn bản thân cho trẻ lớp 
4-5 tuổi B1
 3.1. Nội dung biện pháp
 Hầu hết, trẻ trong lớp tôi đã có được những hiểu biết cơ bản về những 
nguy cơ không an toàn với bản thân trẻ như:
 Những nơi không an toàn, những vật dụng nguy hiểm. Tuy nhiên, trẻ lại chưa 
có kĩ năng ứng xử phù hợp khi gặp phải những tình huống nguy hiểm đó để bảo 
vệ an toàn bản thân.
 Để rèn luyện kĩ năng này cho trẻ, tôi tiến hành: 
 - Lựa chọn nội dung giáo dục là các trường hợp không an toàn trẻ thường 
gặp trong cuộc sống phân chia vào các chủ đề.
 - Sau đó Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng tự nhận biết và 
phòng tránh nguy cơ không an toàn cho trẻ trong các hoạt động chăm sóc giáo 
dục trẻ.
 - Giúp trẻ nhận biết người đáng tin cậy, ghi nhớ số điện thoại quan trọng 
để nhờ sự giúp đỡ khi cần thiết.
 - Cho trẻ được thực hành, luyện tập qua các tình huống. 
 Khi trẻ được thực hành, trải nghiệm một cách thường xuyên dần dần trẻ sẽ 
có được những kinh nghiệm và kĩ năng xử lý tình huống an toàn, hiệu quả trong 
thực tế để bảo vệ bản thân trẻ.
 - Ngoài việc luyện tập cho trẻ qua các tình huống trên lớp, tôi còn phối 
hợp với các bậc phụ huynh rèn luyện kĩ năng này cho trẻ ở nhà tạo sự thống nhất 
giữa gia đình và giáo viên trong chăm sóc, giáo dục trẻ.
 3.2 Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp.
 a) Lựa chọn nội dung giáo dục là các trường hợp không an toàn trẻ 
thường gặp trong cuộc sống phân chia vào các chủ đề
 - Căn cứ vào kết quả mong đợi trẻ cuối độ tuổi trong Chương trình giáo 
dục mầm non mục, tôi tiến hành lựa chọn các tình huống mà trẻ thường gặp phải 
trong cuộc sống để rèn luyện kĩ năng bảo vệ an toàn bản thân cho trẻ. Các tình 
huống lựa chọn đảm bảo gần gũi, phù hợp với khả năng của trẻ.
STT Chủ đề Nội dung
 1 Trường Mầm non - Kĩ năng nhận biết đồ dùng đồ chơi an 
 toàn,những nơi an toàn . không an toàn 4
 2 Bản Thân - Không nhận quà và đi theo người lạ 
 3 Gia đình - Bé làm gì khi gặp người bị điện giật 
 4 Nghề nghiệp - Bé làm gì khi gặp hỏa hoạn.
 5 Thế giới động vật - Bé làm gì khi gặp con vật có hại 
 6 Tết và mùa xuân - Bé làm gì khi thấy người đốt pháo?
 7 Thế giới thực vật - Bé không ăn quả lạ ,không leo trèo cây
 8 Nước và HTTN - An toàn khi đi tắm biển.
 9 Giao thông - An toàn khi tham gia giao thông
 10 Quê hương-đất nước- Bác - Bé làm gì khi nghỉ hè?
 Hồ- Trường Tiểu học
 Nhờ có việc lên kế hoạch, lựa chọn nội dung giáo dục mà tôi đã chủ động 
hơn trong việc hình thành kĩ năng tự bảo vệ an toàn bản thân cho trẻ. Hoạt động 
được tổ chức thường xuyên hơn, khoa học, bài bản hơn.
 b) Lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng tự nhận biết và 
phòng tránh nguy cơ không an toàn cho trẻ trong các hoạt động chăm sóc 
giáo dục trẻ.
 Để thực hiện được biện pháp này tôi đã chủ động lên kế hoạch, lồng ghép 
 linh hoạt, khéo léo các nội dung giáo dục kĩ năng nhận biết và phòng tránh nguy 
 cơ không an toàn cho trẻ 
 Trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường như: giờ ăn, ngủ, 
 vệ sinh, hoạt động học, hoạt động ngoài trời xuyên suốt các chủ đề năm học. 
 Cụ thể:
 - Tôi tiến hành phân chia các nội dung dạy trẻ nhận biết và phòng tránh 
 nguy cơ không an toàn vào các hoạt động giáo dục trong ngày phù hợp theo 
 từng chủ đề.
 - Các nội dung giáo dục được tôi sắp xếp theo hướng từ dễ đến khó, đảm bảo 
 phù hợp với khả năng của trẻ, phù hợp với chủ đề giáo dục.
 Ví dụ: Chủ đề “Trường Mầm non của bé”, chủ đề nhánh “Lớp học của 
 bé”, trong giờ trò chuyện buổi sáng, khi cho trẻ trò chuyện về một số đồ dùng, 
 đồ chơi của lớp, tôi có thể lồng ghép giáo dục trẻ nhận biết một số đồ chơi mà 
 trẻ phải chú ý an toàn khi chơi như: Đồ chơi có góc, cạnh sắc nhọn, đồ chơi 
 nhỏ không được cho vào mũi, vào miệng dẫn đến hóc, sặc 5
-Hình ảnh: Cô trò chuyện với trẻ về hành động nguy hiểm của 2 bạn đang 
giằng kéo với nhau.
 Ví dụ: Giờ hoạt động ngoài trời chủ đề “Trường Mầm non của bé”: 
 Trong hoạt động quan sát và trò chuyện về đồ dùng đồ chơi trên sân trường, tôi 
 giới thiệu cho trẻ dấu hiệu nhận biết đồ chơi ngoài trời có thể gây thương tích 
 cho trẻ như: đồ chơi bị han, gỉ, sắc nhọn, đồ chơi lỏng lẻo, không chắc chắn 
 hay một số hành động gây mất an toàn khi chơi ngoài trời như: xô đẩy, đùa 
 nghịch, chạy nhanh, trèo lên lan can cầu thang 
 . 
 Hình ảnh: Cô giới thiệu với trẻ những đồ chơi an toàn ,nhận biết đồ chơi 
 không an toàn 6
 - Hoặc cho trẻ đi tham quan các khu vực trong trường để trò chuyện với trẻ về 
những khu vực không an toàn ở trong trường như: Phía ngoài cổng trường, phía 
sau, khuất của trường,và đặc biệt với lớp tôi học trên tầng 2 trẻ thích khám phá 
điều mới lạ lan can nơi nguy hiểm tôi trò chuyện với trẻ tuyệt đối không bám 
vào lan can ngó đầu kiễng chân nhìn ra ngoài hay nhìn xuống dưới vì đó là nơi 
nguy hiểm có thể ảnh hưởng đến tính mạng để kết hợp giáo dục trẻ chơi ở 
những nơi an toàn.
Hình ảnh: Cô giới thiệu với trẻ nơi nguy hiểm, không được trèo leo cầu thang.
 Ví dụ: Trong giờ ăn: Tôi nói cho trẻ biết một số tai nạn có thể xảy ra với 
 trẻ khi ăn như: Cười đùa dẫn đến hóc sặc, nhét thức ăn vào mũi, ăn nhanh, ăn 
 không từ tốn dẫn đến nghẹn 
 - Ví dụ: Ở giờ hoạt động vui chơi tôi hướng dẫn và giúp trẻ ghi nhớ cách chơi 
 an toàn với các loại đồ chơi trong lớp học bằng cách đặt cho trẻ thảo luận cách 
 đưa ra quy tắc giờ chơi và cho trẻ lặp đi, lặp lại quy tắc đó trong mỗi giờ chơi.
- Ví dụ: Trong giờ học: Chủ đề “Gia đình”, chủ đề nhánh: “Nhu cầu của gia 
đình” khi giới thiệu các đồ dùng sử dụng điện, tôi có thể lồng ghép giáo dục trẻ 
không sờ nghịch ổ điện, không đến gần các vật dụng dùng điện: Bàn là, phích 
nước 
 - Nhờ việc lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng tự nhận biết và 
phòng tránh nguy cơ không an toàn cho trẻ một cách thường xuyên theo các chủ 7
đề, trẻ trong lớp tôi đã có kiến thức cơ bản và nhận biết được những nguy cơ 
không an toàn với bản thân từ đó biết cách phòng tránh những nguy hiểm đó.
 c. Giúp trẻ nhận biết người thân đáng tin cậy, ghi nhớ số điện thoại 
quan trọng để nhờ sự giúp đỡ khi cần thiết.
 Trẻ còn nhỏ nên trẻ chưa phân biệt được ai là người đáng tin cậy, ai là 
người mà trẻ có thể tin tưởng, người trẻ có thể nhờ sự giúp đỡ khi gặp phải 
những nguy hiểm với bản thân. 
 Đôi khi, những người gần gũi nhất lại là người xâm hại trẻ. Vì vậy, việc 
giúp trẻ nhận biết người tin cậy, giúp trẻ ghi nhớ địa chỉ hay những số điện thoại 
cần thiết là vô cùng quan trọng.
 Thông qua các buổi trò chuyện đầu giờ,qua hoạt động học phát triển kỹ 
năng cho trẻ qua hoạt động chiều, qua hoạt động tôi giúp trẻ hiểu thế nào là 
người đáng tin cậy:
 Người đáng tin cậy là người yêu thương con, làm con có cảm giác an 
toàn, không làm con bị đau, không đánh đập con như: Bố, mẹ, ông, bà . 
 Nhưng nếu bố, mẹ ông bà là người làm con bị tổn thương, đau đớn thì lúc 
này con có thể nhờ giúp đỡ của cô giáo, của các chú cảnh sát 
 - Giúp trẻ ghi nhớ số điện thoại của người thân, số điện thoại khẩn cấp 
thông qua các trò chơi.
 Rèn cho trẻ ghi nhớ số điện thoại, địa chỉ của những người thân như: Bố, 
mẹ, ông, bà, cô giáo và số điện thoại của một số tổng đài mà trẻ có thể gọi khi 
cần sự giúp đỡ: 113 (Cảnh sát), 115 (Cấp cứu), 114 (Cứu hỏa), 111 (Bảo vệ trẻ 
em 8
Tôi đã rèn luyện cho trẻ ghi nhớ các số điện thoại, địa chỉ nơi ở thông qua một 
số trò chơi: Thi xem ai nhanh; Kể đủ ba người bé tin tưởng; Những con số đáng 
yêu; Siêu trí tuệ nhí .
 Ví dụ: Trò chơi: “ Vòng tròn kỳ diệu”: Cô sẽ tổ chức dưới hình thức thi 
rung chuông vàng. Trẻ làm theo yêu cầu của cô như: chọn hình ảnh đúng các số 
điện thoại tổng đài chăm sóc, bảo vệ trẻ em 
Hình ảnh minh họa tổ chức trò chơi “Vòng tròn kỳ diệu “.
d) Cho trẻ thực hành, trải nghiệm qua các tình huống.
 Khi đã lựa chọn, phân chia các nội dung giáo dục vào các chủ đề. Tôi tiến 
cho trẻ trải nghiệm, thực hành qua các nội dung đó qua các tình huống thường 
gặp trong thực tế. tôi thường thực hiện theo các bước như sau:
 - Bước 1: Đưa ra tình huống: Tôi có thể sử dụng video, tranh ảnh hoặc 
cho chính trẻ trong lớp đóng tình huống đó.
 - Bước 2: Thảo luận: Sau khi trẻ được xem tình huống, tôi và trẻ sẽ cùng 
nhau trò chuyện, thảo luận (Trò chuyện cả lớp/ thảo luận theo nhóm) về nội 
dung tình huống bằng các câu hỏi như:
 + Con vừa xem tình huống gì?
 + Trong tình huống có nguy cơ nguy hiểm nào? Vì sao con biết?
 + Khi gặp phải tình huống như vậy con sẽ xử lý thế nào?
 - Bước 3: Cung cấp kiến thức đúng cho trẻ. 9
 + Sau khi cùng trẻ thảo luận và đưa ra các ý kiến. Cô giáo sẽ giúp trẻ tổng 
hợp các ý kiến và thống nhất đưa ra cách giải quyết đúng.
 - Bước 4: Cho trẻ được trải nghiệm thực hiện lại tình huống: Sau khi đã 
đưa ra cách xử lý đúng, giáo viên sẽ cho trẻ thực hành đóng lại tình huống theo 
cách đã thống nhất để hình thành kĩ năng đúng cho trẻ.
 Ví dụ : Tình huống hình ảnh không nhận quà và đi theo người lạ 
Ví dụ: Tình huống một trẻ nghịch ổ điện và bị điện giật: 
 - Cô cho trẻ đóng tình huống một bạn nghịch ổ điện và bị điện giật. 
 - Sau khi trẻ xem tình huống cô cho trẻ thảo luận theo nhóm. Cô gợi ý trẻ 
thảo luận theo các câu hỏi:
 + Điều gì đã xảy ra với các bạn trong tình huống? (Bị điện giật).
 + Tại sao bạn lại bị điện giật (Nghịch ổ điện, chạm vào bạn bị điện giật ).
 + Khi bị điện giật thì điều gì sẽ xảy ra? (Nguy hiểm đến tính mạng).
 + Đâu là hành vi sai trong tình huống? (Nghịch ổ điện, sờ vào người bị 
điện giật ). 10
 + Nếu là con, con sẽ làm gì? (Không nghịch ổ điện, không sờ vào người 
bị điện giật .).
 + Con biết cách xử lý nào khi gặp người bị điện giật không? (Không sờ 
vào người bị điện giật, gọi người lớn ).
 - Sau khi trẻ thảo luận cô cho các nhóm trình bày cách giải quyết vấn đề 
của nhóm mình. Cô kết luận và đưa ra cách giải quyết đúng: Khi thấy người bị 
điện giật, các con không được đến gần chạm vào người bị điện giật. Có thể dùng 
cây, gậy khô để gạt dây điện ra khỏi người bị điện giật. Tuy nhiên, các con còn 
nhỏ thì khi thấy người bị điện giật các con hãy hô thật lớn để nhờ sự giúp đỡ của 
mọi người.
 - Sau khi đưa ra cách giải quyết đúng: Cô cho các nhóm trẻ đóng thực 
hành tình huống.
 (Video trẻ thực hành tình huống)
 e) Phối hợp với phụ huynh
 Để phối hợp với phụ huynh, tôi tận dụng những khoảng thời gian họp 
phụ huynh, thông qua bảng tuyên truyền của lớp, trao đổi với phụ huynh trong 
giờ đón trả trẻ hoặc qua liên lạc online như tạo nhóm Zalo-facebook để trao đổi 
trực tiếp với phụ huynh về sự cần thiết và một số biện pháp giúp trẻ rèn kĩ năng 
tự bảo vệ an toàn bản thân. 11
 Ảnh tuyên truyền trên bảng tuyên truyền với phụ huynh
- Khuyến khích phụ huynh dành thời gian trò chuyện với con. Giúp con nhận 
biết một số nguy cơ không an toàn khi ở nhà: không mở cửa cho người lạ, không 
nghịch ổ điện, kĩ năng xử lý khi gặp hỏa hoạn . Các bậc phụ huynh dành thời 
gian dạy trẻ thực hành các kĩ năng ở nhà, dạy trẻ ghi nhớ số điện thoại của bố, 
mẹ, ông, bà, cô giáo, những số điện thoại tổng đài khi cần thiết thông qua việc 
trò chuyện hàng ngày trong khi chơi cùng trẻ.
 Các video trò chuyện của phụ huynh với con
 3.3. Kết quả sau khi áp dụng các biện pháp. 12
 - Đối với giáo viên: Giúp tôi có thêm nhiều kiến thức và kỹ năng tổ chức các 
hoạt động dạy trẻ biết cách tự bảo vệ bản thân một cách linh hoạt, sáng tạo, phù 
hợp.
 - Đối với phụ huynh: Phụ huynh thêm tin tưởng cô giáo. Yên tâm hơn khi gửi 
con cho cô chăm sóc và giáo dục. 
 Bởi họ nhìn thấy con em mình đã có nề nếp hơn, có kỹ năng sống và có một 
số kỹ năng bảo vệ bản thân phù hợp.
 - Trẻ mạnh dạn tự tin hơn so với lúc đầu áp dụng biện pháp. Có thêm kiến 
thức, kỹ năng tự bảo vệ bản thân.
 Có ý thức tự giác biết tự làm 1 số công việc đơn giản, biết chia sẻ, giúp đỡ, 
đoàn kết. Vui chơi lành mạnh, an toàn trong các hoạt động.
 Bảng so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng biện pháp:
 Chênh 
 Trước khi Sau khi áp 
 lệch
 STT Nội dung áp dụng dụng
 SL % SL % %
 Biết gọi người lớn khi gặp 
 1 trường hợp khẩn cấp: Cháy, 5/17 29% 17/17 100 71%
 tai nạn, chảy máu 
 Biết tránh một số trường 
 hợp không an toàn:
 + Khi người lạ bế, ẵm, cho 
 kẹo bánh, uống nước ngọt, rủ 
 2 6/17 35% 17/17 100 65%
 đi chơi.
 + Ra khỏi nhà, khu vực 
 trường, lớp khi không được 
 phép của người lớn, cô giáo.
 Biết được địa chỉ nơi ở, số 
 điện thoại gia đình, người 
 3 5/17 30% 16/17 94% 64%
 thân và khi bị lạc biết hỏi, 
 gọi người lớn giúp đỡ.
 4. Minh chứng về hiệu quả của biện pháp. 13
 - Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn làm cơ sở cho việc lựa chọn biện 
pháp:
 - Chương trình giáo dục mầm non ban hành theo Văn bản hợp nhất số 
01/VBHN-BGDĐT ngày 13/4/2021 của Bộ giáo dục và Đào tạo.
 - Thực hiện nghiêm túc Thông tư số 45/2021/TT-BGDĐT ngày 31/12/2021 
của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, 
chống tai nạn thương tích trong cơ sở GDMN.
 - Chuyên đề 2 trong Tài liệu bồi dưỡng, hướng dẫn, nâng cao năng lực 
chuyên môn cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới 
giáo dục.
 5. Cam kết
 Tôi xin cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao 
chép hoặc vi phạm bản quyền;
- Không sử dụng biện pháp đã được đề xuất để xét duyệt thành tích khen thưởng 
cá nhân trước đó; 
- Các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của 
trẻ em là trung thực./.
 Tam Tiến, ngày tháng năm 2024
 GIÁO VIÊN
 Trần Thị Thanh Hương
 ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG 14
 .
 ..
 .
 HIỆU TRƯỞNG
 (Ký, đóng dấu)
 Nguyễn Thị Quyên

File đính kèm:

  • docbien_phap_giao_duc_ki_nang_bao_ve_an_toan_ban_than_cho_tre_l.doc
Giáo Án Liên Quan